MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Du lịch ngày càng phát triển và
đã trở thành một món ăn không thể thiếu trong đời sống con người. Chính vì lẽ
đó mà kinh doanh du lịch càng ngày càng phát triển, khả năng cạnh tranh và thu
hút khách du lịch của các doanh nghiệp du lịch tương đối cao. Để tồn tại và
phát triển, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có những giải pháp đồng bộ để nâng
cao khả năng thu hút khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch công vụ. Dù lợi
nhuận thu được từ đối tượng khách này không cao như với khách quốc tế nhưng việc
các doanh nghiệp lữ hành đưa ra các chính sách, chiến lược phát triển và bước
đi cụ thể như thế nào để thu hút đối tượng khách này ngày càng trở nên quan trọng
và cấp thiết hơn bao giờ hết.
Thực tiễn cho thấy, để có thể nắm bắt được nhu
cầu của đối tượng khách công vụ mục tiêu này các doanh nghiệp lữ hành phải
không ngừng nghiên cứu thị trường, tìm kiếm sở thích, thời gian rỗi cũng như khả
năng tiêu dùng các sản phẩm du lịch của họ để thiết kế các chương trình du lịch
hấp dẫn, thu hút và lôi kéo họ. Và để thực hiện được các nhiệm vụ đó, đòi hỏi
các doanh nghiệp lữ hành phải phát triển hoạt động kinh doanh lữ hành trong đó
việc đưa ra các giải pháp tạo ra các chương trình du lịch hấp dẫn với những
khác biệt so với các doanh nghiệp khác nhằm thu hút khách du lịch công vụ là
quan trọng hơn cả.
Qua thời gian thực tập tại
Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển du lịch Việt Nam , em có được cơ hội tiếp xúc thực
tế các hoạt động kinh doanh tại công ty. Tuy thời gian thực tập không nhiều
nhưng em cũng đã nhận ra một số vấn đề bất cập còn tồn tại trong công ty. Hoạt
động kinh doanh lữ hành của công ty còn có nhiều khó khăn, doanh thu còn chưa
tương xứng với chi phí bỏ ra, các chương trình du lịch chưa có sự khác biệt với
đối thủ cạnh tranh để thu hút khách, đội ngũ nhân viên trẻ, sáng tạo nhưng còn
chưa có nhiều kinh nghiệm. Các giải pháp marketing thu hút khách du lịch, đặc
biệt là thị trường khách du lịch công vụ nội địa mà công ty đã áp dụng như tập
trung nghiên cứu thị trường để thỏa mãn tốt nhất nhu cầu khách du lịch chưa được
thực hiện một cách thường xuyên, việc đa dạng hóa các chương trình du lịch tạo
ra được nhiều sự lựa chọn cho khách hàng chưa mang lại được kết quả cao. Môi
trường kinh doanh thì ngày càng khắc nghiệt, biến động không ngừng và nếu
Công
ty cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển du lịch Việt Nam không kịp thời đưa ra
những giải pháp phù hợp, khả thi thì không những công ty khó theo kịp được
các đối thủ cạnh tranh mà khả năng bị tẩy chay ra khỏi ngành là rất có thể xảy
ra.
Xuất phát từ những thực tế đó
có thể cho thấy việc nghiên cứu đề tài “Giải pháp marketing-mix thu hút khách du lịch
công vụ của Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển du lịch Việt Nam –
Hà Nội” là cần thiết và có ý
nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Việc nghiên cứu đề tài này góp phần tăng khả
năng thu hút khách du lịch công vụ và nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường
cho mỗi doanh nghiệp du lịch.
Để giải
quyết các vấn đề đặt ra, đề tài khóa luận cần đạt tới các nhiệm vụ sau đây:
Thứ nhất, nhằm hệ thống hóa cơ sở
lý luận về giải pháp marketing-mix thu hút khách du lịch công vụ nội địa tại doanh
nghiệp du lịch.
Thứ hai, dựa trên cơ sở lý luận, kiến thức
thực tế và phân tích thực trạng về thị trường khách du lịch công vụ cũng như việc
áp dụng chính sách marketing-mix thu hút khách du lịch công vụ nội địa tại Công
ty cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển du lịch Việt Nam để từ đó làm rõ vấn đề
khó khăn mà công ty đang gặp phải.
Thứ ba, đề ra một số giải pháp marketing-mix
nhằm thu hút khách du lịch công vụ nội địa tại Công ty cổ phần đầu tư xây dựng
và phát triển du lịch Việt Nam .
Thứ
tư, đưa ra một số kiến nghị của công ty đối với Nhà nước, Tổng cục du lịch
và thủ đô Hà Nội trong việc phát triển thị trường khách công vụ nội địa.
Về không gian: Đề tài giới hạn nghiên cứu trong phạm vi
Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển du lịch Việt Nam .
Về
thời gian: Dữ liệu của đề tài được thu thập trong vòng hai năm là 2010 và 2011.
Về nội dung nghiên cứu: Là làm rõ nội dung các
giải pháp marketing-mix trong công tác thu hút khách du lịch công vụ tại Công
ty cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển du lịch Việt Nam .
Thông qua việc thu thập tài liệu,
em tìm thấy các đề tài nghiên cứu cùng nội dung được thực hiện trong phạm vi
trường Đại học Thương Mại trong những năm gần đây là:
1. Trần Thị Kim Anh (năm 2009), “Giải
pháp marketing-mix thu hút khách công vụ tại khách sạn Hacinco”
2. Đặng Thái Hà (năm 2006), “Giải
pháp marketing để thu hút khách công vụ nội địa tại công ty khách sạn Kim Liên”
3. Thân Thị Hồng Thắm (năm
2011), “Giải pháp marketing thu hút khách
du lịch nội địa của Công ty cổ phần du lịch và thương mại Công đoàn Giao thông
vận tải”
4. Hoàng Thị Bé (năm 2011), “Giải pháp marketing thu hút khách du lịch nội địa tại Công ty cổ phần
truyền thông du lịch Việt – Hà Nội”
Các đề
tài nghiên cứu trên đã giải quyết được một số vấn đề mang tính lý luận và thực
tiễn về vấn đề marketing-mix nhằm thu hút đối tượng khách công vụ cũng
như khách du lịch nội địa và đã đạt được những kết
quả nhất định. Tuy nhiên những đề tài đó chỉ mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu
khái niệm, đặc điểm, nội dung của các chính sách marketing-mix. Chưa có đề tài
luận văn nào nghiên cứu chuyên sâu đến việc đưa ra các giải pháp nhằm thu hút
khách du lịch công vụ tại Công ty cổ phần đầu tư xây và phát triển du lịch
Việt Nam . Bên cạnh đó, tình hình thế giới và Việt Nam từng
ngày, từng giờ đang phải đối diện với nhiều biến động. Những biến động này tác
động không nhỏ đến các doanh nghiệp lữ hành nói chung và Công ty cổ phần
đầu tư xây và phát triển du lịch Việt Nam nói riêng. Do đó, xét về cả thời gian và không gian, đề tài em lựa
chọn là không bị trùng lặp với bất cứ một đề tài nào khác.
Ngoài phần Lời cảm ơn, Mở đầu, Kết
luận, Danh mục bảng biểu, Phụ lục khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về giải pháp marketing-mix thu hút khách du
lịch công vụ trong kinh doanh du lịch.
Chương 2: Thực trạng giải pháp marketing-mix
nhằm thu hút khách du lịch công vụ nội địa tại Công ty cổ phần đầu tư xây dựng
và phát triển du lịch Việt Nam .
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị cho
hoạt động marketing-mix nhằm thu hút khách du lịch công vụ tại Công ty cổ phần
đầu tư xây dựng và phát triển du lịch Việt Nam .
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
GIẢI PHÁP MARKETING-MIX THU HÚT KHÁCH DU LỊCH CÔNG VỤ TRONG KINH DOANH DU LỊCH
Theo
khoản 1 Điều 4 chương I, Luật Du lịch Việt Nam 2005: “Du lịch là các hoạt động
có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình
nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng
thời gian nhất định”.
Theo
cách tiếp cận này thì du lịch là những quan hệ tương hỗ nảy sinh do sự tác động
qua lại giữa khách du lịch, các nhà kinh doanh du lịch, chính quyền địa phương
và dân cư địa phương trong quá trình thu hút và phục vụ khách du lịch.
Kinh
doanh du lịch là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá
trình hoạt động du lịch việc nghiên cứu nhu cầu, “sản xuất” sản phẩm đến thực
hiện dịch vụ du lịch trên thị trường nhằm mục đích sinh lời.
Điều
38, Luật Du lịch Việt Nam 2005 quy định các hoạt động kinh doanh du lịch bao gồm:
-
Kinh doanh lữ hành;
-
Kinh doanh lưu trú du lịch;
-
Kinh doanh vận chuyển khách du lịch;
-
Kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch;
-
Kinh doanh dịch vụ du lịch khác.
Theo tổ chức du lịch thế giới
(UNWTO): Khách du lịch là người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình trên
24 giờ với nhiều mục đích khách nhau ngoại trừ mục đích kiếm tiền.
Theo khoản 2, Điều 4, chương I Luật Du lịch Việt
Nam 2005: “ Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường
hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”.
Như vậy, khách du lịch là người
tìm kiếm các kinh nghiệm, thỏa mãn về vật chất hay tinh thần khác nhau thông
qua chuyến đi du lịch. Bản chất của du khách là sẽ xác định nơi đến du lịch, lựa
chọn các hoạt động tham gia và thưởng thức.
Phân loại khách du lịch:
Theo động cơ của chuyến đi:
Khách du lịch được phân loại thành khách đi du lịch thuần túy, khách công vụ và
khách đi với các mục đích chuyên biệt khác.
Theo hình thức tổ chức chuyến
đi: Gồm khách theo đoàn, khách lẻ và khách theo hãng.
Khách du lịch công vụ nội địa
là công dân của một quốc gia đi với mục đích giải quyết công việc như cung cấp
hàng hóa, tham gia hội chợ triển lãm, tham dự hội nghị, hội thảo, tìm kiếm cơ hội
đầu tư, tìm kiếm đối tác hay ký kết hợp đồng,…và trong thời gian lưu lại họ có
kết hợp với các hoạt động du lịch nghỉ ngơi giải trí ở trong phạm vi quốc gia
đó.
Đặc
điểm thị trường khách du lịch công vụ nội địa:
+
Thời gian tham gia du lịch và thời gian lưu trú thường ngắn, trung bình khoảng
4-5 ngày tương ứng với thời gian diễn biến của các hoạt động công vụ.
+
Điểm đến của khách du lịch công vụ nội địa thường là các thành phố hay trung
tâm thương mại, kinh tế, văn hóa lớn. Là những nơi thường xuyên tổ chức các hội
nghị, sự kiện.
+
Khách thường đi theo đoàn với số lượng
lớn.
+ Cầu
và sự chi tiêu của khách du lịch công vụ nội địa được định mức trong giới hạn của
những quy định và chế độ tài chính.
+ Là
tập khách hàng ưa sự chính xác, có kế hoạch trong công việc. Thường yêu cầu cao
về sự đảm bảo giờ giấc, tính tổ chức trong các hoạt động của chương trình du lịch.
Theo Philip Kotler: “Marketing-mix
là tập hợp những yếu tố biến động kiểm soát được của marketing mà doanh nghiệp
sử dụng để cố gắng gây được phản ứng mong muốn từ thị trường mục tiêu”.
Theo
Alastair. M. Morrison, marketing-mix bao gồm các yếu tố có thể kiểm soát được như:
sản phẩm, giá, phân phối, xúc tiến, yếu tố con người, lập chương trình tạo sản
phẩm trọn gói và quan hệ đối tác mà một công ty nào đó lựa chọn để đáp ứng nhu
cầu khách hàng.
Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu
của khách hàng về chất lượng các sản phẩm dịch vụ du lịch ngày càng cao. Để có
thể đáp ứng tối đa các nhu cầu đó các doanh nghiệp du lịch không chỉ đơn thuần
sử dụng một yếu tố marketing là sản phẩm mà còn phải sử dụng nhiều yếu tố khác
nữa. Marketing-mix chính là sự kết hợp các yếu tố marketing do doanh nghiệp tạo
ra nhằm thỏa mãn các nhu cầu của một thị trường mục tiêu.
Môi trường cạnh tranh ngày càng khắc
nghiệt, nhu cầu của khách hàng ngày càng thay đổi. Để duy trì hoạt động kinh
doanh, các doanh nghiệp du lịch luôn xem hoạch định marketing-mix để thu hút
khách du lịch là công tác hết sức có ý nghĩa trong chiến lược kinh doanh của
mình. Đó là sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố marketing nhằm nắm bắt được nhu
cầu của khách hàng; tạo ra các sản phẩm du lịch phong phú, đa dạng hóa chủng loại,
mang tính tiện lợi, hấp dẫn và thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách du lịch.
Sản phẩm và chính sách sản phẩm
Sản phẩm là mọi thứ có thể chào bán
trên thị trường để chú ý, mua, sử dụng hay tiêu dùng, có thể thỏa mãn được một
mong muốn hay nhu cầu.
Chính sách sản phẩm được hiểu là tổng
thể các quy tắc chỉ huy việc tạo sản phẩm vào thị trường để thỏa mãn nhu cầu của
thị trường và thị hiếu của khách hàng trong từng thời kỳ kinh doanh của doanh
nghiệp đảm bảo việc kinh doanh có hiệu quả.
Các khái niệm về giá và chính sách giá
Với
các hoạt động trao đổi, giá cả được định nghĩa: Giá là mối tương quan trao đổi trên thị trường.
Với
người mua: Giá cả của một sản phẩm
hoặc dịch vụ là khoản tiền mà người mua phải trả cho người bán để được quyền sở
hữu, sử dụng sản phẩm hay dịch vụ đó.
Với
người bán: Giá cả của một hàng hóa, dịch vụ là khoản thu nhập người bán nhận
được nhờ việc tiêu thụ sản phẩm đó.
Chính sách giá là bao gồm toàn bộ
các quyết định về giá mà người quản trị phải soạn thảo và tổ chức thực hiện để
đạt được mục đích mà doanh nghiệp theo đuổi.
Phân phối và chính sách phân phối
Phân phối chính là việc đưa đến cho người tiêu dùng
những sản phẩm mà họ có nhu cầu ở những thời điểm, thời gian, chất lượng, chủng
loại, mong muốn. Hay nói cách khác, phân phối chính là phương thức thể hiện các
biện pháp, thủ thuật nhằm đưa sản phẩm và dịch vụ đến tay khách hàng.
Chính sách phân phối trong kinh
doanh du lịch có vai trò quan trọng trong việc điều tiết mối quan hệ cung cầu
nhằm khắc phục được tính không lưu giữ được của sản phẩm du lịch. Quá trính sản
xuất kinh doanh là an toàn hơn, sản xuất được thực hiện liên tục, giảm được chi
phí và sản phẩm dịch vụ được tiêu thụ nhanh hơn.
Xúc tiến và chính sách xúc tiến
Xúc tiến là các hoạt động truyền
thông marketing, truyền thông tin về sản phẩm và doanh nghiệp tới khách hàng để
thuyết phục họ mua.
Chính sách xúc tiến được hiểu là các
hoạt động nhằm thông tin về sản phẩm thuyết phục khách hàng mua sản phẩm hay
thay đổi nhận thức về sản phẩm nhằm đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm của doanh
nghiệp.
Con người và chính sách con người
Con người có vai trò quan trọng trong hoạt động
marketing và kinh doanh du lịch, là yếu tố tạo ra các dịch vụ thỏa mãn nhu cầu
của khách hàng.
Chính sách con người là các chính
sách liên quan đến các nhân viên trong doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho khách
hàng. Chính sách con người trong kinh doanh bao gồm những nội dung như: hoạch định,
tuyển dụng, bố trí sử dụng, đào tạo bồi dưỡng, đánh giá và đãi ngộ nhân viên.
Tạo sản phẩm trọn gói và lập chương trình
Tạo sản phẩm trọn gói là sự kết hợp một số dịch vụ
có liên quan thành một chào hàng dịch vụ tổng thể với mức giá trọn gói.
Lập chương trình là sự triển khai
các hoạt động, các sự kiện đặc biệt hay những chương trình để gia tăng sự tiêu
dùng của khách hàng hoặc làm tăng thêm sự hấp dẫn cho các sản phẩm trọn gói.
Quan hệ đối tác
Quan hệ đối tác trong kinh doanh du lịch là mối quan
hệ được thiết lập khi các doanh nghiệp cùng tham gia cung ứng để cùng cung cấp
các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng.
Trong kinh doanh du lịch chính sách
sản phẩm được xem là nền tảng, là xương sống của các chiến lược và chính sách
kinh doanh. Để góp phần thu hút đối tượng khách du lịch công vụ, các doanh nghiệp
du lịch cần hoạch định chính sách sản phẩm phù hợp với nhu cầu của đối tượng
khách này theo các nội dung:
v
Xác định danh mục sản
phẩm: Doanh nghiệp du lịch cần xác định danh mục sản phẩm qua 4 thông số cơ bản
sau: bề rộng, chiều dài, chiều sâu và mức độ hài hòa, tương tích của danh mục sản
phẩm.
v
Phát triển sản phẩm mới:
Do nhu cầu và thị hiếu của đối tượng khách này có sự thay đổi, khoa học công
nghệ và tình hình cạnh tranh trên thị trường phát triển ngày càng cao nên đòi hỏi
các doanh nghiệp lữ hành phải luôn luôn phải hoàn thiện và đổi mới sản phẩm dịch
vụ của mình. Để phát triển một sản phẩm mới các doanh nghiệp lữ hành cần tiến
hành theo các bước sau: hình thành ý tưởng, sàng lọc ý tưởng, soạn thảo và thẩm
định dự án phát triển sản phẩm mới, soạn thảo chiến lược marketing, thiết kế sản
phẩm mới, thử nghiệm dịch vụ mới trên thị trường và thương mại hóa.
v
Các quyết định sản phẩm
dịch vụ: Dựa trên chiến lược về sản phẩm dịch vụ các doanh nghiệp lữ hành đưa
ra các quyết định cho sản phẩm dịch vụ của mình. Các quyết định này bao gồm:
Quyết định về dịch vụ cơ bản và dịch vụ bổ sung: Trong
kinh doanh du lịch tập thị trường khách công vụ có xu hướng tiêu dùng sản phẩm
du lịch thường là các dịch vụ tổng thể bao gồm các dịch vụ cơ bản và dịch vụ bổ
sung. Việc quyết định dịch vụ cơ bản phải dựa vào đặc tính tiêu dùng của khách
công vụ, phân tích sản phẩm của đối thủ cạnh tranh và tiềm lực của công ty du lịch.
Dịch vụ bổ sung không những có tác dụng thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách mà
còn tạo ra sự khác biệt so với đối thủ cạnh tranh. Vì vậy, quyết định về dịch vụ
bổ sung phải dựa trên 2 nguyên tắc: dịch vụ cơ bản đã lựa chọn chất lượng cao
thì dịch vụ bổ sung càng phong phú, đa dạng và có chất lượng cao.
Quyết định đa dạng hóa sản phẩm: Việc
đa dạng hóa sản phẩm tạo điều kiện cho công ty du lịch cung cấp các sản phẩm
đáp ứng nhu cầu của các đối tượng khách du lịch công vụ khác nhau. Mức độ đa dạng
hóa sản phẩm dịch vụ phụ thuộc vào nhiều loại hình dịch vụ, nhu cầu thị trường
khách công vụ và số đoạn thị trường mà công ty du lịch khai thác.
Quyết định các hướng tăng trưởng bao gồm thâm nhập
thị trường, phát triển sản phẩm mới, phát triển thị trường và đa dạng hóa.
Giá cả là một trong những yếu tố
linh hoạt nhất của marketing-mix, là yếu tố duy nhất tạo nên doanh thu và thu
nhập cho doanh nghiệp du lịch. Mặc dù hiện nay cạnh tranh trên thị trường đang
có xu hướng chuyển dần từ cạnh tranh bằng giá sang cạnh tranh bằng chất lượng sản
phẩm và dịch vụ đi kèm, song cạnh tranh bằng giá lúc nào cũng quan trọng. Với bối
cảnh tình hình kinh tế của nước ta hiện nay, giá cả hàng hóa dịch vụ đóng vai
trò quan trọng trong việc kích cầu du lịch, ngăn chặn đà suy thoái của ngành du
lịch và nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch. Để tăng khả
năng thu hút tập thị trường khách công vụ, các doanh nghiệp du lịch cần xây dựng
các chiến lược giá cũng như có được những thay đổi và điều chỉnh giá một cách
linh hoạt với các nội dung sau:
v
Xác định
các chiến lược giá:
Thứ nhất là việc định giá cho sản phẩm mới có nghĩa
là khi một sản phẩm mới hay dịch vụ mới được đưa ra thị trường để thu hút đối
tượng khách công vụ các doanh nghiệp du lịch thường sử dụng hai phương pháp là
định giá để hớt phần ngọn và định giá thâm nhập thị trường.
- Định giá để hớt phần ngọn là định giá ở mức cao nhất
trong chừng mực có thể nhưng vẫn thu hút được đối tượng khách công vụ. Chiến lược
này thường thực hiện với sản phẩm hoàn
toàn mới, mang tính độc đáo cao, nhu cầu ít co giãn vì giá và áp dụng cho đối
tượng khách công vụ sẵn sàng chấp nhận giá cao. Tuy nhiên, với mục tiêu thu hút
thị trường khách du lịch công vụ thì chiến lược giá hớt phần ngọn không được
các doanh nghiệp du lịch thường xuyên áp dụng vì chủ yếu đối tượng khách này có
nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm du lịch với mức giá trung bình.
- Định giá thâm nhập thị trường là chiến lược định
giá mà các doanh nghiệp định giá cho sản phẩm ở mức thấp có thể để dễ dàng chiếm
đoạt phần tối đa của thị trường. Chiến lược định giá này thích hợp khi nhu cầu
rất co giãn theo giá, chi phí thấp khi mua với số lượng lớn các yếu tố đầu vào.
Thứ hai là định giá cho toàn danh mục sản phẩm tức
là các doanh nghiệp du lịch xây dựng một bộ giá bán cho toàn bộ danh mục sản phẩm
của mình chứ không phải chỉ riêng cho từng sản phẩm dịch vụ. Nhằm mục tiêu thu
hút đối tượng khách du lịch công vụ thì các doanh nghiệp du lịch thường định
giá trọn gói. Thay vì định giá cho từng sản phẩm, dịch vụ riêng biệt, các doanh
nghiệp du lịch tập hợp một số sản phẩm và dịch vụ lại thành gói. Và giá bán các
gói sản phẩm, dịch vụ này phải nhỏ hơn tổng số tiền mua từng sản phẩm dịch vụ
trong gói theo các mua riêng lẽ từng sản phẩm một của các khách công vụ. Ngoài
ra, tùy theo đặc điểm của từng sản phẩm dịch vụ mà các doanh nghiệp du lịch có
thể định giá theo chủng loại sản phẩm, định giá cho các dịch vụ tùy chọn, cho sản
phẩm bắt buộc, cho sản phẩm phụ hay định giá hai phần để có thể thu hút được sự
chú ý của đối tượng khách du lịch công vụ.
Khi tiến hành định giá nhằm thu hút đối tượng khách
công vụ các doanh nghiệp du lịch nên xem xét mục tiêu định giá trong từng giai
đoạn phát triển của doanh nghiệp. Khi một doanh nghiệp du lịch có sức ép cạnh
tranh hoặc đang gặp khó khăn trong kinh doanh và nhu cầu của khách du lịch công
vụ là thay đổi thì doanh nghiệp du lịch phải giảm giá bán sản phẩm nhằm duy trì
hoạt động kinh doanh cũng như sự tồn tại của doanh nghiệp. Hay muốn chiếm lĩnh thị
phần, muốn tăng tối đa mức tiêu thụ sản phẩm thì các doanh nghiệp phải định giá
thấp để thâm nhập thị trường.
v
Điều chỉnh giá kịp thời
có ý nghĩa rất quan trọng đối với các doanh nghiệp du lịch bởi sự điều chỉnh
này có thể giúp doanh nghiệp đối phó với những thay đổi trong ngắn hạn về giá của
các đối thủ cạnh tranh cũng như sự thay đổi của môi trường kinh doanh. Đó là việc
các doanh nghiệp du lịch biết giảm giá đến mức nào để bán cho đối tượng khách
công vụ thường xuyên mà vẫn có lãi, là việc điều chỉnh giá cho đoàn khách công
vụ mới, khuyến mại hoặc giảm giá khi khách công vụ tiêu dùng các sản phẩm dịch
vụ mùa doanh nghiệp vắng khách,…
v
Thay đổi giá bằng cách
chủ động giảm giá hay tăng giá có thể giúp doanh nghiệp đối phó với những thay
đổi trong môi trường kinh doanh cũng như thay đổi nhu cầu của thị trường khách
du lịch công vụ mục tiêu của doanh nghiệp. Để khuyến khích khách công vụ trong
việc mua và thanh toán, các doanh nghiệp du lịch có thể thay đổi giá cơ bản của
mình cho khách bằng cách bớt giá và chiết giá như chiết giá vì mua khối lượng lớn,
chiết khấu thương mại áp dụng cho các thành viên của kênh phân phối.
Nhắn tin để tải báo cao luận văn này với phí 5k/1 tin nhắn.
Post a Comment