VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
v Về mặt lý thuyết :
Vốn là điều kiện
tiên quyết không thể thiếu được đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào. Nó là yếu
tố quan trọng để tiến hành SXKD, đồng thời nó cũng là tiền đề để doanh nghiệp tồn
tại, phát triển và đứng vững trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Hiệu quả sử
dụng vốn luôn gắn liền với hiệu quả SXKD của doanh nghiệp. Vì vậy, việc quản lý
và sử dụng vốn nói chung, VLĐ nói riêng là yếu tố chiến lược trong công tác tài
chính doanh nghiệp, quyết định đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp.
Bất cứ một doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động SXKD đều
hướng tới một mục đích chung là lợi nhuận. Mặt khác, VLĐ chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng số VKD của doanh nghiệp thương mại. Việc nâng cao hiêụ quả sử dụng VLĐ
giúp doanh nghiệp hạ thấp được chi phí sử dụng vốn, chi phí SXKD, góp phần hạ
giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận. Doanh nghiệp càng tiết kiệm được nhiều chi
phí thì sẽ càng có thêm nhiều vốn để mở rộng kinh doanh, đầu tư nâng cao năng lực
sản xuất. giúp doanh nghiệp có chỗ đứng vững chắc trên thị trường. Do đó, để đạt
được mục tiêu này đòi hỏi các doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ
có như vậy mới thu được lợi nhuận cao góp phần thúc đẩy doanh nghiệp ngày càng
phát triển.
v Về mặt thực tiễn :
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cùng với quá trình hội nhập, phát triển
cùng nền kinh tế khu vực và thế giới, đã tạo cho nước ta nhiều cơ hội và thách
thức mới. Bên cạnh đó trong những năm gần đây nước ta đã chịu ảnh hưởng của cuộc
khủng hoảng mang tính chất toàn cầu. Những điều này đã ảnh hưởng trực tiếp
không nhỏ tới từng doanh nghiệp.
Là công ty cổ phần với hoạt động kinh doanh thương mại chủ yếu
là dịch vụ dầu khí, đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty mang tính đặc
thù, đòi hỏi nhu cầu về VLĐ cao, đồng thời việc tích lũy và phân bổ nguồn vốn của
công ty khá phức tạp nên VLĐ trở thành vấn đề quan tâm hàng đầu của Tổng công
ty. Do đó, công ty rất quan tâm đến vấn đề tạo lập, quản lý và sử dụng vốn kinh
doanh nói chung và VLĐ nói riêng sao cho có hiệu quả nhất đem lại lợi nhuận nhiều
nhất cho doanh nghiệp.
Qua thời gian thực
tập tổng hợp tại Tổng công ty Dung dịch khoan và hóa phẩm dầu khí, em nhận thấy
rằng: Bên cạnh những thành tựu nhất định mà tổng công ty đã đạt được, cũng còn
nhiều tồn tại. Tình hình sử dụng vốn tại công ty trong thời gian qua có còn nhiều
bất cập, đặc biệt hiệu quả sử dụng vốn lưu động của tổng công ty là chưa cao,
và công ty cũng đang gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm giải pháp cụ thể để
nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ.
Nhận thức về
tầm quan trọng của VKD nói chung, VLĐ nói riêng, đồng thời cũng thấy được tính
cấp thiết của việc nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ đối với Tổng công ty dung dịch
khoan và hóa phẩm dầu khí khóa luận đã chọn đề tài nghiên cứu là “Nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn lưu động của Tổng công ty Dung dịch khoan và hóa phẩm dầu khí”
1.2. Mục đích nghiên cứu
Nhằm đạt được hiệu quả trong nghiên cứu và mang lại tính thực
tiễn cao cho bài khóa luận, mục tiêu nghiên cứu của đề tài được hoạch định cụ
thể như sau :
-
Hệ
thống hóa các vấn đề lý thuyết về vốn lưu động và hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
-
Khảo
sát thực trạng về hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Tổng công ty Dung dịch
khoan và hóa phẩm dầu khí.
-
Đánh
giá các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Tổng công ty
trong thời gian qua.
-
Đề
xuất các giải pháp cụ thể và có tính khả thi để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
lưu động tại Tổng công ty Dung dịch khoan và hóa phẩm dầu khí.
1.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu :
v Đối tượng nghiên cứu: Vốn lưu động và hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Tổng công
ty Dung dịch khoan và hóa phẩm dầu khí.
v Phạm vi nghiên cứu :
-
Nội
dung nghiên cứu: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động và giải pháp nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn lưu động
-
Không
gian nghiên cứ : Đề tài nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Tổng công
ty dung dịch khoan và hóa phẩm dầu khí
-
Thời
gian nghiên cứu: Các số liệu và tình hình về hiệu quả sử dụng vốn lưu động được
thu thập trong thời gian từ năm 2009 - 2011
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Khóa
luận sử dụng phương pháp định tính kết hợp với duy vật biện chứng, duy vật lịch
sử, và các phương pháp khác như diễn giải, quy nạp, phân tích tài chính doanh
nghiệp
* Phương pháp định tính : Phương pháp này giúp tiếp cận, tìm cách mô tả và phân
tích đặc điểm của đối tượng nghiên cứu. nghiên cứu định tính cung cấp thông tin
toàn diện, các yếu tố được phân tích liên kết, sâu chuỗi lại thành khối giúp ta
có được cái nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu. Phương pháp này sử dụng các kỹ
thuật điều tra, phỏng vấn mà trong đó đối tượng cảm thấy thoải mái nhất giúp
thu được kết quả phỏng vấn tốt nhất.
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến Vốn lưu động
1.1.1 Vốn kinh doanh
Bất kì một doanh
nghiệp nào muốn tiến hành hoạt động SXKD đều cần phải có ba yếu tố cơ bản sau:
Sức lao động, đối tượng lao động, và tư liệu lao động. Để có được các yếu tố cơ
bản này đòi hỏi DN phải ứng ra một số vốn tiền tệ nhất định phù hợp với quy mô
và điều kiện kinh doanh. Lượng vốn tiền tệ đó được gọi là vốn kinh doanh của
DN. Mặt khác trong quá trình kinh doanh để duy trì và mở rộng các
hoạt động kinh doanh, các DN cần phải duy trì và làm tăng lượng tài
sản cần thiết phục vụ cho kinh doanh của mình, điều đó đồng nghĩa
với việc các DN duy trì và mở rộng vốn kinh doanh.
Từ
đó có thể hiểu: Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của
toàn bộ giá trị toàn bộ tài sản hiện có và đang phục vụ cho hoạt động sản
xuất của DN.
Vốn
kinh doanh luôn luôn vận động và tồn tại trong mọi giai đoạn SXKD từ sản xuất
đến tái sản xuất; được huy động và sử dụng hợp lý, có kế hoạch vào hoạt động
SXKD nhằm mục đích sinh lời. Vốn có vai trò tạo ra giá trị thặng dư, là nguồn gốc
tạo ra lợi nhuận DN; nó quyết định quy mô, hiệu quả kinh doanh, chỗ đứng, và vị
thế của DN.
Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển khi tham gia
vào quá trình SXKD, Vốn kinh doanh được chia thành: vốn cố định và vốn lưu động.
1.1.2. Vốn lưu động
Để đảm bảo cho quá trình SXKD được tiến
hành thường xuyên liên tục đòi hỏi DN phải có một lượng tài sản ngắn hạn nhất
định, bao gồm tiền mặt, đầu tư chứng khoán ngắn hạn, các khoản phải thu, dự trữ
tồn kho và các tài sản có khả năng chuyển đổi thành tiền trong vòng một năm trở
lại mà không làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của DN. Và để hình thành nên
các tài sản ngắn hạn, DN phải ứng ra một số vốn tiền tệ nhất định đầu tư vào
các tài sản đó. Số vốn tiền tệ này được gọi là vốn lưu động của DN. Vốn lưu động của DN cũng không ngừng vận động qua các
chu kỳ kinh doanh: dự trữ sản xuất, sản xuất, lưu thông. Quá trình này được diễn
ra liên tục và thường xuyên, lặp đi lặp lại theo chu kỳ và được gọi là quá trình
tuần hoàn, chu chuyển của VLĐ và sau mỗi chu kỳ sản xuất, VLĐ hoàn thành một
vòng luân chuyển.
Từ những phân tích trên có thể rút
ra: Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của giá trị các tài sản thuộc quyền sở
hữu của doanh nghiệp có thời gian sử dụng, luân chuyển giá trị trong một chu kỳ
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hoặc trong một năm.
Hay nói một cách tổng quát: Vốn lưu động là một bộ phận quan
trọng của Vốn kinh doanh được đầu tư để hình thành TSNH phục vụ cho kinh
doanh của doanh nghiệp.
1.1.3 Tài sản ngắn hạn
Để tiến hành sản
xuất kinh doanh, ngoài các tài sản cố định, doanh nghiệp cần phải có các tài sản
ngắn hạn. Tài sản ngắn hạn là những tài sản có thời gian sử dụng và luân chuyển
giá trị chỉ trong một thời gian ngắn (thường ≤ 1 năm hoặc một chu kỳ kinh doanh
của doanh nghiệp). Đặc điểm nổi bật của TSNH là giá trị của nó được dịch chuyển
dần vào giá trị của sản phẩm, và được thu hồi dần khi sản phẩm được tiêu thụ.
Trong doanh nghiệp
người ta thường chia tài sản ngắn hạn thành hai loại: tài sản ngắn hạn sản xuất
và tài sản ngắn hạn lưu thông
+ Tài sản ngắn hạn sản
xuất: bao gồm các đối tượng lao động như nguyên vật liệu và các tư liệu dự trữ
cho sản xuất, các sản phẩm dở dang, phụ tùng thay thế, bán thành phẩm đang nằm
trong khâu dự trữ sản xuất hoặc sản xuất chế biến
+ Tài sản ngắn hạn lưu
thông: bao gồm các sản phẩm, thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền,
các khoản vốn trong thanh toán, các khoản chi
phí chờ kết chuyển, chi phí trả trước
Trong quá trình SXKD các TSNH sản xuất
và TSNH luôn vận động thay thế và chuyển hoá lẫn nhau đảm bảo cho quá trình
SXKD được tiến hành liên tục và thuận lợi.
1.2. Nội dung lý thuyết liên quan đến Vốn lưu động của doanh nghiệp
1.2.1 Đặc điểm Vốn lưu động
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện
nay, vai trò của VLĐ ngày càng được đề cao đối với hoạt động SXKD của doanh
nghiệp. VLĐ của doanh
nghiệp có những đặc điểm sau:
- Qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh VLĐ thường xuyên thay đổi hình
thái biểu hiện, và hoàn thành một vòng luân chuyển sau một chu kì kinh doanh
khi doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm và thu được tiền bán hàng
Vốn lưu động của DN thường xuyên vận
động, vận chuyển hoá lần lượt qua nhiều hình thái khác nhau: T - H......(SX)......H’ – T’ (Trong đó : T’
= T + DT). Đối
với doanh nghiệp sản xuất: VLĐ từ hình thái ban đầu là tiền được chuyển hoá
sang hình thái vật tư dự trữ, sản phẩm dở dang, thành phẩm, sau quá trình tiêu
thụ lại chuyển về hình thái ban đầu là tiền. Đối với doanh nghiệp thương mại, sự
vận động của VLĐ nhanh hơn từ hình thái vốn bằng tiền chuyển hóa sang hình thái
hàng hoá và cuối cùng chuyển về hình thái tiền. Trong thực tế quá trình SXKD, sự
vận động không phải lúc nào cũng diễn ra một cách tuần hoàn tự như trên mà các
giai đoạn vận động của nó có thể được đan xen lẫn nhau.
-
VLĐ chỉ tham gia vào một chu kỳ sản
xuất kinh doanh và bị hao mòn hoàn toàn trong quá trình sản xuất kinh doanh đó
Giá trị VLĐ
dịch chuyển toàn bộ giá trị một lần vào giá trị sản phẩm mới được tạo ra, cấu
thành nên giá trị sản phẩm và được hoàn lại toàn bộ sau mỗi chu kì kinh doanh. Đây
là điều khác biệt lớn nhất với Vốn cố định, khi mà vốn cố định chuyển dần giá
trị của nó vào sản phẩm thông qua mức khấu hao.
1.2.2. Phân loại Vốn lưu động
Kết cấu VLĐ là tỷ trọng từng bộ phận
vốn trên tổng số VLĐ của DN trong một thời kỳ hoặc tại một thời điểm nhất định.
VLĐ có kết cấu phức tạp, có tính chất hoạt động không thuần nhất, nguồn cấp
phát và nguồn vốn bổ sung luôn thay đổi. Mỗi DN có kết cấu VLĐ khác nhau tùy
theo đặc điểm và mục tiêu quản lý của mình. Việc phân tích kết cấu VLĐ giúp cho
DN thấy được tình hình phân bổ và tỷ trọng của mỗi khoản vốn trong quá trình
SXKD, từ đó DN có thể xác định phương hướng và trọng điểm quản lý, để quản lý
và sử dụng từng bộ phận cấu thành nên VLĐ và toàn bộ VLĐ có hiệu quả, phù hợp với
điều kiện cụ thể.
VLĐ luôn thay đổi hình thái vật chất lại tham gia vào rất nhiều
quá trình kinh doanh sản xuất nên có thể tiến hành phân loại VLĐ theo các
phương thức sau:
1.2.2.1.
Phân loại căn cứ vào các khâu của quá trình SXKD
§ Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: Đảm bảo hoạt động SXKD của doanh nghiệp
tiến hành được thường xuyên, liên tục. Bao gồm: vốn nguyên vật liệu, nhiên
liệu, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ lao động, bao bì đóng gói, thành phẩm
mua ngoài.
§ Vốn lưu động trong khâu sản xuất: Đảm bảo cho việc sản xuất được liên tục. Bao gồm: vốn sản phẩm đang chế tạo, bán thành phẩm tự chế, vốn về
chi phí chờ phân bổ.
§ Vốn lưu động trong khâu lưu thông: Đảm bảo cho việc tiêu thụ hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ cho
khách hàng được thường xuyên. Bao gồm:
giá trị thành phẩm, hàng hóa, vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán , các khoản đầu
tư ngắn hạn, các khoản thế chấp, ký quỹ, ký cược ngắn hạn.
Ý nghĩa của tiêu thức
phân loại: Cách phân
loại này giúp cho doanh nghiệp xem xét đánh giá tình hình phân bổ VLĐ trong các
khâu của quá trình chu chuyển VLĐ. Nếu VLĐ nằm trong lĩnh vực sản xuất càng lớn
thì hiệu quả kinh tế trong việc sử dụng VLĐ càng cao. Từ đó đề ra các biện pháp
tổ chức quản lý thích hợp VLĐ để có hiệu quả sử dụng cao nhất.
§ Vốn bằng tiền: Bao
gồm: tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển. Tiền là một loại
tài sản có tính linh hoạt cao, DN có thể dễ dàng chuyển đổi thành các loại tài
sản khác hoặc để trả nợ.
§ Đầu tư tài chính ngắn hạn: Là số vốn đầu tư của DN vào các tài sản tài chính có thời
gian đầu tư trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh. Bao gồm: cho vay ngắn
hạn, đầu tư chứng khoán ngắn hạn.
§ Các khoản phải thu ngắn hạn: Bao gồm: phải thu
khách hàng, phải thu nội bộ, các khoản phải thu ngắn hạn khác. Chủ yếu là các
khoản phải thu từ khách hàng.
§ Hàng tồn kho:
Bao gồm: nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm dở dang, thành phẩm, hàng
hóa.
§ Tài sản ngắn hạn khác: Bao gồm: đầu tư chứng khoán ngắn hạn, các khoản tạm ứng, trả
trước cho người bán, các khoản thế chấp, cầm cố, ký cược, ký quỹ ngắn hạn.
Ý nghĩa của tiêu thức phân loại: Cách phân loại này giúp cho DN có cơ sở để tính toán kiểm tra
kết cấu tối ưu của VLĐ để dự thảo những quyết định tối ưu về mức tận dụng số
VLĐ đã bỏ ra. Mặt khác, nó cũng là cơ sở để DN đánh giá khả năng thanh toán của
mình.
§ Vốn chủ sở hữu: Là số VLĐ thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, chi phối và định
đoạt, bao gồm: Vốn điều lệ do chủ sở hữu đầu tư, vốn tự bổ sung từ lợi nhuận và
từ các quỹ của doanh nghiệp, vốn do Nhà nước tài trợ.
§ Nợ phải trả:
Là số vốn thuộc quyền sở hữu của các chủ thể kinh tế khác, doanh nghiệp có quyền
sử dụng, chi phối trong một thời hạn nhất định. Nợ của DN thường bao gồm 2 bộ
phận: Nợ chiếm dụng ( các khoản vốn trong thanh toán mà DN được sử dụng một
cách hợp pháp khi chưa tới kỳ hạn) và nợ tín dụng ( các khoản vốn vay từ các chủ
thể khác như : ngân hàng, các tổ chức tài chính- tín dụng, các doanh nghiệp
khác).
Ý nghĩa của tiêu thức phân loại: Phân loại theo cách này giúp DN lựa
chọn đối tượng huy động vốn tối ưu nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho SXKD, xác định
được cơ cấu nguồn vốn tài trợ cho nhu cầu VLĐ trong kinh doanh của mình, để có
những biện pháp quản lý và kế hoạch sử dụng VLĐ một cách hiệu quả, đảm bảo an
ninh tài chính, giảm thấp chi phí sử dụng vốn.
1.2.3. Nội dung quản lý Vốn lưu động
v Quản lý hàng tồn kho
HTK
là các loại vật tư hàng hóa mà DN dự trữ để sản xuất hoặc để bán, bao gồm
nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm, hàng hóa. Nếu DN dự trữ HTK quá
lớn, sẽ tốn kém chi phí dự trữ, ứ đọng vốn, và ngược lại dự trữ quá ít sẽ không
đủ phục vụ cho quá trình SXKD, làm gián đoạn quá trình SXKD hoặc phải đặt hàng
nhiều lần, tốn kém chi phí đặt hàng của DN. Do đó bản thân DN cần phải tìm cách
xác định mức độ cân bằng giữa mức độ đầu tư cho hàng dự trữ và lợi ích do thoả
mãn nhu cầu của sản xuất và nhu cầu người tiêu dùng với chi phí tối thiểu nhất.
DN sẽ tiến hành quản lý HTK theo một trong hai phương pháp sau:
-
Quản
lý HTK theo phương pháp cổ điển hay mô hình đặt hàng hiệu quả - EOQ
-
Quản
lý HTK theo phương pháp cung cấp đúng lúc hay dự trữ bằng 0
v Quản lý vốn bằng tiền và các chứng
khoán thanh khoản cao
Vốn
bằng tiền bản thân nó không sinh lời, do đó một mục tiêu rất quan trọng là tối
thiểu hóa lượng tiền phải dữ trữ. Quản lý Vốn bằng tiền sẽ giúp các DN biết được
lượng vốn bằng tiền cần lưu giữ nhằm đảm bảo giao dịch kinh doanh hằng ngày và
đáp ứng nhu cầu dự phòng trong trường hợp biến động bất thường, mang lại hiệu
quả cao nhất cho hoạt động kinh doanh của DN. Nội dung quản lý vốn bằng tiền và
các chứng khoán thanh khoản cao cần quan tâm tới các vấn đề: Lập kế hoạch
nghiên cứu và xác định lượng tiền dự trữ tối ưu dựa vào mô hình EOQ
v Quản lý các khoản phải thu ngắn hạn
Do khoản phải
thu khách hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các khoản phải thu ngắn hạn, nên
quản lý các khoản phải thu ngắn hạn thực chất là quản lý các khoản phải thu khách
hàng. Các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô các khoản phải thu thường là: Khối lượng
sản phẩm, hàng hoá dịch vụ bán chịu cho khách hàng, Sự thay đổi theo thời vụ của
doanh thu, Thời hạn bán chịu và chính sách tín dụng của mỗi doanh nghiệp,… Nội
dung quản lý khoản phải thu cần quan tâm các vấn đề: Xây dựng chính sách tín dụng
thương mại hợp lý, ra quyết định bán chịu, và theo dõi quản lý nợ phải thu
khách hàng.
1.3. Hiệu quả sử dụng Vốn lưu động
1.3.1. Khái niệm về Hiệu quả sử dụng Vốn lưu động của doanh nghiệp
Hiệu quả sử dụng
VLĐ là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ và năng lực quản lí VLĐ của doanh
nghiệp, đảm bảo VLĐ được luân chuyển với tốc độ cao, đảm bảo khả năng thanh
toán của doanh nghiệp luôn ở tình trạng tốt và mức chi phí vốn bỏ ra là thấp nhất,
là chỉ tiêu chất lượng phản ánh mối quan hệ giữa kết quả đạt được trong quá
trình khai thác sử dụng VLĐ vào sản xuất với số VLĐ đã sử dụng để đạt được kết
quả đó trong một thời kỳ nhất định.
|
Hiệu
quả sử dụng VLĐ
|
=
|
Kết quả đạt được
|
|
Tổng VLĐ sử dụng trong kỳ
|
Quan
niệm về hiệu quả của việc sử dụng VLĐ phải được hiểu trên hai khía cạnh:
-
Một là: Với số vốn hiện có có thể sản xuất
thêm một lượng sản phẩm với chất lượng tốt, giá thành hạ để tăng lợi nhuận của
DN
-
Hai là: Đầu tư thêm vốn một cách hợp lý nhằm
mở rộng quy mô sản xuất nhằm tăng doanh thu tiêu thụ với yêu cầu đảm bảo tốc độ
tăng của lợi nhuận phải lớn hơn tốc độ tăng của vốn
Nâng cao hiệu
quả sử dụng VLĐ là đảm bảo với số vốn hiện có, bằng các biện pháp quản lý và tổng
hợp nhằm khai thác triệt để khả năng vốn có để có thể mang lại nhiều lợi nhuận
hơn cho DN. Cụ thể, các DN phải thường xuyên tự đánh giá mình về phương diện sử
dụng vốn, để thấy được chất lượng quản lý SXKD, khả năng khai thác các tiềm
năng sẵn có, biết được mình đang ở giai đoạn nào của quá trình phát triển, đang
ở vị trí nào trong quá trình cạnh tranh với các DN khác…Từ đó DN sẽ đề ra được
những biện pháp thiết thực để tăng cường quản lý và sử dụng tiết kiệm các yếu tố
sản xuất nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao hơn.
1.3.2.Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng Vốn lưu đông của doanh nghiệp
1.3.2.1.Nhóm
các chỉ tiêu đánh giá tổng hợp hiệu quả
sử dụng Vốn lưu động
* Tốc độ chu chuyển của Vốn lưu động
:
Đặc trưng cơ bản nhất của VLĐ là sự
luân chuyển liên tục trong suốt quá trình SXKD và chuyển toàn bộ giá trị một lần
vào sản phẩm trong chu kì kinh doanh, nên việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm VLĐ được
biểu hiện trước hết ở tốc độ luân chuyển VLĐ của DN nhanh hay chậm. Sự luân
chuyển VLĐ nhanh hay chậm phản ánh tình hình tổ chức các mặt hàng dự trữ, sản
xuất, tiêu thụ của DN tốt và hợp lý hay không, các khoản phí tổn trong SXKD cao
hay thấp, tiết kiệm hay không tiết kiệm.
Tốc độ luân chuyển VLĐ có thể được biểu
hiện bằng hai chỉ tiêu:
+
Vòng quay Vốn lưu động
Số vòng quay VLĐ là chỉ tiêu phản ánh số vòng quay của VLĐ thực
hiện trong một kỳ kinh doanh. Chỉ tiêu này càng lớn thì chứng tỏ VLĐ chu chuyển
càng nhanh
Post a Comment