Trong những năm gần đây, chúng ta đang được chứng kiến sự chuyển mình
phát triển đi lên của nền kinh tế thế giới, và thực tế đã cho thấy một xu thế
khách quan đang diễn ra mang tính chất toàn cầu mà không một quốc gia, không một
tập đoàn, không một công ty nào lại không tính đến chiến lược kinh doanh của
mình. Đó là xu thế quốc tế hoá nền kinh tế thế giới, một xu thế đem lại sức mạnh
về tài chính; tận dụng công nghệ nhằm làm giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản
phẩm cho tất cả những doanh nghiệp tham gia vào guồng máy đó.
Việt Nam
cũng không ngừng đổi mới để hoà nhập với nền kinh tế thị trường thế giới, có
nhiều doanh nghiệp đã ra đời và không ngừng lớn mạnh. Nhưng để có tồn tại và
phát triển trong môi trường cạnh tranh gay gắt của thị trường các doanh nghiệp
cần phải xác định các yếu tố đầu vào sao cho hợp lý, phải quan tâm đến tất cả
các khâu trong quá trình sản xuất từ khi bỏ vốn ra đến khi thu hồi vổn về, đảm
bảo thu nhập của đơn vị, hoàn thành nghĩa vụ với nhà nước, cải tiến đời sống
cho cán bộ công nhân viên và thực hiện tái sản xuất mở rộng. Các doanh nghiệp cần
phải hoàn thiện các bước thật cẩn thận và nhanh chóng sao cho kết quả đầu ra là
cao nhất, với giá cả và chất lượng sản phẩm có sức hút đối với người tiêu dùng.
Vật liệu
là một trong ba yếu tố quan trọng không thể thiếu của quá trình sản xuất. Vật
liệu chỉ tham gia vào một lần trong một chu kỳ sản xuất và hình thái vật chất
ban đầu của vật liệu bị biến đổi chuyển hoá kết kinh vào sản phẩm về cả hiện vật
cũng như mặt giá trị. Do đó chi phí vật liệu chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí sản
xuất cũng như trong giá thành sản xuất sản phẩm. Muốn cho quá trình sản xuất
kinh doanh được thường xuyên liên tục thu nhập đủ để bù đáp chi phí và có lãi,
đòi hỏi doanh nghiệp phải đều tiết kiệm đồng bộ. Trên giác độ của kế toán để thực
hiện đúng chức năng nhiệm vụ của mình thì việc quản lý, hạch toán chính xác vật
liệu (nhất là trong lĩnh vực xây dựng cơ bản) vào giá thành sản phẩm là cần thiết
và quan trọng.
Từ nhận
thức đó với kiến thức được học ở trường cùng với kiến thức thực tế qua quá
trình thực tập tại công ty CP kinh doanh nhà và xây dựng Hải Dương. Em đã đi sâu tìm hiểu nghiên cứu đề tài “Kế toán
nguyên vật liệu xây dựng tại Công ty Cổ phần kinh doanh nhà và xây dựng Hải
Dương” làm khóa luận tốt nghiệp.
Mục tiêu lý luận: Trên phương diện lý luận, đề tài sẽ đề cập đến hệ thống
các văn bản pháp quy với mục đích chính là hệ thống hóa những lý luận cơ bản về
kế toán NVL tại công ty cổ phần kinh doanh nhà và xây dựng Hải Dương nhằm cung
cấp một cái nhìn tổng quan và hoàn thiện nhất.
Mục tiêu thực tiễn:
+) Khảo sát thực
trạng kế toán NVL tại công ty, tìm hiểu sự vận dụng chuẩn mực kế toán và chế độ
kế toán tại công ty.
+) Đánh giá thực
trạng qua đó làm rõ ưu, nhược điểm về kế toán NVL xây dựng tại công ty cổ phần
kinh doanh nhà và xây dựng Hải Dương.
+) Đề xuất các
giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán NVL nói chung và kế toán NVL xây dựng tại
Công ty nói riêng.
Về mặt lý luận: nghiên cứu kế toán NVL tại các doanh nghiệp xây lắp theo
các chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành.
Về mặt thực tiễn: kế toán NVL xây dựng tại công ty cổ phần kinh doanh nhà
và xây dựng Hải Dương.
Khóa luận được thực hiên tại Công ty cổ phần kinh doanh nhà và xây dựng Hải
Dương từ ngày 19/03/2012 đến ngày 19/05/2012. Các số liệu sử dụng trong đề tài
được lấy thực tế trong quý I năm 2012 tại Công ty cổ phần kinh doanh nhà và xây
dựng Hải Dương.
Số liệu thứ cấp: Là những số liệu được thu thập từ các nguồn có sẵn như
sách báo, tạp chí, internet, đặc biệt là từ các phòng ban trong công ty.
Số liệu sơ cấp: Là số liệu thu được
thông qua quan sát thực tiễn hoạt động kinh doanh của công ty.
Sau khi thu thập được các số liệu thứ cấp và sơ cấp thì tiến hành sắp xếp
chúng thành một hệ thống phù hợp với đề tài và được xử lý bằng phần mềm Excel.
Phương pháp thống kê kinh tế: Tổng hợp số liệu
và hệ thống hóa tài liệu trên cơ sở phân tổ thống kê và phân tích số liệu. Áp dụng
phương pháp này, công ty phân chia NVL thành từng nhóm, loại NVL cho phù hợp với
tính chất lý, hoá học, mục đích sử dụng… khác nhau. Ngoài ra, sử dụng phương
pháp này vào quá trình nhập - xuất NVL đáp ứng cho yêu cầu sản xuất để phân
tích và đánh giá tình hình hạch toán NVL, từ đó đưa ra giải pháp phù hợp cho
công ty trong công tác tổ chức hạch toán NVL.
Phương pháp so sánh: Sử dụng phương pháp so sánh để thấy được sự biến động
của các chỉ tiêu như doanh thu, chi phí…của công ty qua các năm, từ đó đánh giá
khách quan về tình hình hoạt động của công ty và trên cơ sở đó đưa ra kết luận,
kiến nghị, định hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện nâng cao kết quả kinh doanh.
Nhắn tin để tải luận văn báo cáo này :
Post a Comment