Trong
chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2012, được thông qua tại đại hội đảng
lần thứ XI, Đảng ta khẳng định: “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố
quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền
kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan
trọng nhất, đảm bảo cho phát triển nhanh
hiệu quả và bền vững”.
Đối
với một đất nước đã vậy đối với mỗi doanh nghiệp nguồn nhân lực cũng không kém
phần quan trọng. Bên cạnh các nguồn lực khác, nguồn nhân lực là yếu tố quyết
định thành bại đối với mỗi doanh nghiệp, là yếu tố chi phối tất cả các yếu tố
khác trong doanh nghiệp. là “quả tim” của doanh nghiệp và cả đất nước.
Trải
qua quá trình thực tập tại Công ty cổ phần Việt Nam APTES em càng hiểu rõ hơn
tầm quan trọng của nguồn lực này. Vì vậy em đã quyết định đi sâu hơn nghiên cứu
về tình hình nhân lực tại công ty cổ phần Việt Nam APTES.
Dựa
trên những lý thuyết được học trên lớp cùng với sự tìm hiểu của mình em thấy
được trong rất nhiều nội dung của công tác quản trị như: tuyển dụng, bố trí sử
dụng, đào tạo, đãi ngộ nhân sự, thì tuyển dụng nhân sự là khâu đầu tiên và quan
trọng quyết định đến số lượng cũng như chất lượng lao động trong công ty. Tuy
nhiên riêng trong công tác này Công ty cổ phần Việt Nam APTES cũng gặp phải một
số hạn chế nhất định như:
Khó
khăn trong công tác tuyển dụng, lúng túng trong hoạt động tìm kiếm thu hút
nguồn nhân lực đến với công ty mình, dẫn đến cơ hội để tìm ra những ứng viên ưu
tú là rất khó khăn.
Áp
đặt máy móc các tiêu chuẩn, các bài kiểm tra đánh giá ứng viên của các công ty,
tổ chức khác vào công tác tuyển dụng của công ty mình mà không gắn với tình
hình hiện tại của APTES. Vì vậy làm giảm hiệu quả thực hiện công việc của những
người được tuyển, không phát huy tối đa được năng lực của nhân viên mới tuyển.
Xuất
phát từ những khó khăn đó em quyết định lựa chọn đề tài “Hoàn thiện công tác tuyển dụng
nhân lực của công ty cổ phần Việt Nam APTES” làm đề tài
nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp của mình.
v Những
công trình đã được nghiên cứu tại công ty cổ phần Việt Nam APTES
Luận
văn tốt nghiệp của sinh viên Tạ Thị Thoa K42F1 khoa kinh tế Đại học Thương mại,
đề tài “Mối quan hệ giữa chi phí và lợi nhuận và một số giải pháp để tối đa hóa
lợi nhuận trong kinh doanh sản phẩm máy xây dựng của công ty cổ phần Việt Nam
APTES trong giai đoạn hiện nay”.
v Những
công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài tại trường Đại học Thương mại trong
năm gần đây.
Luận
văn tốt nghiệp của Nguyễn Thị Hồng Thương, Đề tài “Hoàn thiện công tác tuyển
dụng nhân sự tại công ty cổ phần thương mại FPT”, năm 2011.
Luận
văn tốt nghiệp của Trần Quốc Phương, đề tài “Hoàn thiện công tác tuyển dụng
nhân lực của công ty cổ phần nông sản thực phẩm Hòa Bình” năm 2011
Luận
văn tốt nghiệp của Nguyễn thị Kim Dung, đề tài “Hoàn thiện công tác tuyển dụng
nhân lực của công ty cổ phần đầu tư và thương mại Tràng an”, năm 2011.
Những
công trình nghiên cứu trên đã phần nào cho ta thấy được tổng quan về lý thuyết
tuyển dụng nhân lực, và áp dụng trong thực tiễn tại các công ty. Tuy nhiên chưa
có đề tài nào nghiên cứu về công tác quản trị nhân lực ở công ty cổ phần Việt
Nam APTES do vậy đề tài “Hoàn thiện công tác quản trị nhân lực ở công ty cổ
phần Việt Nam APTES” là không có sự trùng lặp.
Đề
tài tập trung giải quyết ba vấn đề chủ yếu bao gồm:
-
Làm rõ một số lí thuyết cơ bản về tuyển dụng nhân lực đối với doanh nghiệp bao
gồm: Các khái niệm về quản trị nhân lực, tuyển dụng nhân lực cũng như nội dung
cơ bản của tuyển dụng nhân lực thường được thực hiện trong một doanh nghiệp, và
những nhân tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp ảnh hưởng tới công tác tuyển
dụng đối với doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.
-
Làm rõ thực trạng về công tác tuyển dụng nhân lực của công ty cổ phần Việt Nam
APTES bao gồm các nội dung như: Tổng quan về công ty cổ phần Việt Nam APTES,
sâu hơn là tiến hành phân tích và đánh giá thực trạng về công tác tuyển dụng
nhân lực của công ty cổ phần Việt Nam APTES. Từ đó tìm hiểu những thuận lợi
khó, khăn mà APTES đang gặp phải, phương hướng hoạt động của công ty trong thời
gian tới.
-
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao và hoàn thiện công tác tuyển dụng nhân
lực của công ty cổ phần Việt Nam APTES.
Về không gian: Đề
tài tập trung nghiên cứu công tác tuyển dụng nhân lực tại công ty cổ phần Việt
Nam APTES.
Về thời gian:
Nghiên cứu dữ liệu của công ty cổ phần Việt Nam APTES trong khoảng thời gian 3
năm gần đây từ 2009-2011.
Phương
pháp nghiên cứu dữ liệu thứ cấp được thu thập từ tài liệu đã được xử lý tại
công ty nhằm thấy rõ các kết quả mà công ty đã đạt được liên quan tới đề tài.
Phương
pháp bản hỏi được thiết kế dưới dạng trắc nghiệm gồm các câu hỏi gồm liên quan
đến đề tài điều tra để thấy rõ hơn thực trạng về công tác tuyển dụng nhân lực
mà dữ liệu thứ cấp chưa làm rõ được. Số lượng câu hỏi trắc nghiệm là 13, phiếu
được phát cho nhân viên tại các phòng ban của công ty. Số lượng phiếu phát ra
14 phiếu, thu về đủ 14 phiếu đã phát.
Phương
pháp phỏng vấn với các câu hỏi chính phỏng vấn nhà quản trị trong công ty về
vấn đề tuyển dụng nhân lực để thấy rõ hơn thực trạng, các khó khăn và giải pháp
xử lý khó khăn cũng như phương hướng của doanh nghiệp trong thời gian tới mà
phiếu điều tra bản hỏi chưa làm rõ được.
Ngoài
phần lời cảm ơn, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục sơ đồ hình vẽ, tài liệu
tham khảo, phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm 3 phần chính:
Chương
1: Một số vấn đề lí luận cơ bản về tuyển dụng nhân lực trong doanh nghiệp
Chương 2: Phân tích và đánh giá thực trạng
công tác tuyển dụng nhân lực của công ty cổ phần Việt Nam APTES
Chương
3: Đề xuất và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác tuyển dụng nhân lực của công
ty cổ phần Việt Nam APTES
Để
tồn tại và phát triển mỗi tổ chức, mỗi doanh nghiệp đều không thể thiếu những
con người, là nền tảng của tổ chức cũng là nền tảng phát sinh công tác quản trị
nhân lực.
Quản trị nhân lực là tổng hợp
những hoạt động quản trị liên quan đến việc tạo ra, duy trì, phát triển và sử
dụng có hiệu quả yếu tố con người trong tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung
của doanh nghiệp.
(Nguồn: Vũ Thùy Dương, Hoàng Văn Hải, Giáo
trình quản trị nhân lực, trường Đại học Thương mại, năm 2010)
Từ
khái niệm ta có thể thấy được các hoạt động của quản trị nhân lực, Tuy nhiên
các hoạt động đó không được thực hiện rời rạc tách rời mà được thực hiện thông
qua các chức năng của quản trị như hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát một
cách đồng bộ và phối hợp chặt chẽ với nhau do quản trị nhân lực cũng là một
lĩnh vực cụ thể của quản trị. Bên cạnh đó cũng phải được thực hiện trong mối
quan hệ chặt chẽ với các lĩnh vực quản trị khác như: Quản trị chiến lược, quản
trị bán hàng, quản trị mua hàng...để có hiệu quả quản trị chung cao nhất.
Đối
tượng tác động lại chính là con người, trong
thời đại ngày nay, con người được coi là một '' tài nguyên đặc biệt '', một
nguồn lực của sự phát triển kinh tế, Theo
Liên Hợp Quốc thì “Nguồn nhân lực là tất
cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con
người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức và của đất
nước”. Chính sự quan trọng đó mà mỗi doanh nghiệp hiện nay đã và đang ngày
càng chú trọng hơn tới các hoạt động quản tri nhân lực tại doanh nghiệp, tổ
chức mình hướng tới mục tiêu chung mà doanh nghiệp đã đề ra.
Thông
qua khái niệm quản trị nhân lực ta cũng có thể thấy được bốn nội dụng cơ bản
của quản trị nhân lực bao gồm: Tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đào tạo phát triển
nhân sự và đãi ngộ nhân sự. Các nội dung này có mối liên quan chặt chẽ vối
nhau, bổ sung và hỗ trợ và quy định lẫn nhau. Trong đó tuyển dụng nhân lực là
khâu đầu tiên cũng là khâu quan trọng quyết định tới các nội dung còn lại của
quản trị nhân lực.
Tuyển dụng nhân sự là một quá
trình tìm kiếm và lựa chọn nhân sự để thỏa mãn nhu cầu sử dụng của doanh ngiệp
và bổ sung lực lượng lao động cần thiết nhằm thực hiện mục tiêu chung của doanh
nghiệp.
(Nguồn: Vũ Thùy Dương, Hoàng Văn Hải, Giáo
trình quản trị nhân lực, trường Đại học Thương mại, năm 2010)
Để
tuyển được đúng người đòi hỏi các doanh nghiệp đầu tư thời gian, kinh phí và có
một quy trình rõ ràng, bao gồm 2 khâu cơ bản là tìm kiếm và lựa chọn nhân lực.
v Tìm kiếm nhân lực
Tìm
kiếm nhân lực là quá trình thu hút các ứng viên từ lực lượng lao động xã hội và
lực lượng bên trong tổ chức. Mọi tổ chức phải có đầy đủ khả năng để thu hút đủ
số lượng và chất lượng nhằm đạt được mục tiêu của mình.
v Tuyển chọn nhân lực
Tuyển chọn nhân lực là quá
trình đánh giá các ứng viên theo nhiều khía cạnh dựa vào các yêu cầu công việc,
để tìm kiếm những người phù hợp với các yêu cầu đặt ra, trong số những người đã
thu hút được trong quá trình tìm kiếm.
Tìm
kiếm và lựa chọn là hai quá trình diễn ra riêng biệt nhưng có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau, tìm kiếm là cơ sở cho việc tuyển chọn, một khi công tác tìm kiếm
được thực hiện tốt sẽ thu hút được lực lượng lao động phù hợp hơn, tạo điều
kiện cho việc tuyển chọn diễn ra nhanh chóng dễ dàng, qua đó cũng lựa chọn được
đúng người, giảm thời gian công sức và chi phí cho công tác tuyển dụng nhân
lực.
Tuyển
chọn nhân lực cũng là quá trình đánh giá các các ứng viên theo nhiều khía cạnh
khác nhau, dựa vào các yêu cầu và tính chất công việc qua đó tìm ra các ứng
viên trong số những người đã tìm kiếm được phù hợp nhất với yêu cầu mà doanh
nghiệp đặt ra. Do vậy tuyển chọn cũng là khâu quan trọng giúp cho các nhà quản
lý đưa ra các quyết định về nhân lực một cách đúng đắn nhất làm tiền đề cho sự phát triển của doanh
nghiệp trong tương lai.
Hiện
nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Theo liên hợp quốc thì
“nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và
tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của
đất nước”.
Ngân
hàng thế giới cho rằng “Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể
lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp…của mỗi cá nhân. Như vậy, ở đây nguồn lực con
người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác như: Vốn
tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên.
Theo
tổ chức lao động quốc tế: Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những
người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động.
Nguồn
nhân lực của công ty là toàn bộ những người trong và ngoài doanh nghiệp có khả
năng và nhu cầu tham gia lao động.
Khi
có nhu cầu tuyển dụng doanh nghiệp có thể tuyển dụng nhân lực từ nguồn bên
trong hoặc nguồn bên ngoài doanh nghiệp, mỗi nguồn đều có những ưu nhược điểm
riêng, do vậy tùy vào điều kiện và khả năng của mình mà doanh nghiệp có thể lựa
chọn nguồn tuyển dụng cho phù hợp.
v
Nguồn
bên trong được giới hạn ở những người tham gia lao động đang làm việc trong
doanh nghiệp nhưng lại có nhu cầu thuyên chuyển đến công việc khác mà doanh
nghiệp đang có nhu cầu tuyển dụng.
Đối
với nguồn tuyển dụng bên trong doanh nghiệp ngoài việc người đó phải đang làm
việc trong doanh nghiệp, còn cần đảm bảo hai yếu tố:
Về
phía doanh nghiệp phải đang có nhu cầu tuyển.
Về
phía người lao động đang có nhu cầu thuyên chuyển đến một công việc mà doanh nghiệp
đang có nhu cầu tuyển dụng.
v
Các phương pháp tuyển dụng nhân lực từ bên trong
bao gồm:
Phương
pháp tuyển dụng thông qua sự giới thiệu, đề bạt của cán bộ, công nhân viên
trong doanh nghiệp.
Tuyển
dụng thông qua việc dán các thông báo tuyển dụng, doanh nghiệp cũng có thể gửi
bản thông báo tới từng nhân viên trong doanh nghiệp. Thông báo này thường là
các thông báo ngắn bao gồm các thông tin về nhiệm vụ công việc và trình độ yêu
cầu.
Tuyển
dụng căn cứ vào các thông tin đã lưu trữ trong phần mềm nhân sự trong các tổ
chức. Các thông tin lưu trữ có thể là các kỹ năng hiện có, trình độ chuyên môn,
quá trình làm việc, kinh nghiệm nghề nghiệp và các yếu tố khác liên quan đến phẩm
chất cá nhân của người lao động cần tuyển.
v
Nguồn tuyển dụng bên trong doanh nghiệp có những
ưu điểm cơ bản:
Tuyển
dụng bên trong cho phép doanh nghiệp sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực hiện có.
Khả năng con người là vô hạn, trải qua quá trình làm việc năng lực của nhân viên
được bộc lộ ngày càng rõ hơn vì vậy tuyển dụng từ nguồn bên trong giúp khai
thác tốt hơn năng lực đó. Hơn nữa tuyển dụng nội bộ cũng góp phần sử dụng được
lao động dôi dư nếu có
Tạo
cơ hội thăng tiến cho những người đang làm việc bên trong doanh nghiệp qua đó
tạo động lực thúc đẩy tinh thần làm việc, sự nhiệt tình và yên tâm gắn bó lâu
dài với doanh nghiệp
Có
khả năng hội nhập nhanh chóng do những người được tuyển cũng đã và đang làm
việc trong doanh nghiệp, hiểu về môi trường làm việc, văn hóa cũng như mục tiêu
của doanh nghiệp vì vậy học có thể nhanh chóng thích nghi với điều kiện làm
việc và biết tìm giải pháp mau chóng để đạt được mục tiêu đó.
Nhắn tin để tải luạn văn này
Không gửi được tin nhắn ạ
ReplyDelete