Kế toán chi phí xây dựng và tính giá thành công trình tại công ty cổ phần Sông Đà 1

Cùng với quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước, hệ thống kế toán nước ta cũng đang từng bước thay đổi để phù hợp với tình hình mới. Bên cạnh đó tiến trình hội nhập và hợp tác quốc tế đang diễn sâu rộng đã khiến cho vấn đề về nâng cao hệ thống cơ sở hạ tầng được đặt lên hàng đầu, kéo theo đó là sự đầu tư, phát triển nhanh chóng của những hệ thống kiến trúc đô thị, cầu đường, nhà mới…Ngành Xây dựng cơ bản (XDCB) nhanh chóng trở thành một ngành sản xuất có vị trí hết sức quan trọng. Nó cung cấp cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân, góp phần đảm bảo sự phát triển nhịp nhàng của nền kinh tế, tăng sản phẩm xã hội, tăng thu nhập quốc dân, giải quyết việc làm và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Hàng năm, một bộ phận lớn của thu nhập quốc dân, của quỹ tích lũy cùng với vốn đầu tư của nước ngoài được sử dụng trong lĩnh vực XDCB. Vấn đề đặt ra là sử dụng vốn có hiệu quả, tránh lãng phí, thất thoát để giảm được những chi phí không cần thiết, hạ giá thành sản phẩm.
Do đó, có thể thấy được việc tổ chức hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là một công tác quan trọng, là cơ sở để kiểm soát vốn đầu tư XDCB, cung cấp thông tin cho các nhà quản trị để phân tích và đánh giá việc sử dụng các nguồn lực đầu vào, từ đó có các biện pháp điều chỉnh kịp thời nhằm thu được hiệu quả cao nhất. Muốn vậy, công tác kế toán chi phí xây dựng và tính giá thành công trình tại các DN ngày càng cần hoàn thiện hơn.
Thấy được tầm quan trọng của vấn đề trên, qua thời gian tìm hiểu nghiên cứu lý luận tại Trường Đại học Thương Mại và thời gian thực tập tìm hiểu công tác hạch toán kế toán tại Công ty Cổ Phần Sông Đà 1, được sự giúp đỡ của các cô, các chú, các anh chị Phòng Tài chính - Kế toán của Công ty và đặc biệt là sự hướng dẫn của Ths Vũ Thị Thu Huyền, em đã quyết định lựa chòn đề tài: “Kế toán chi phí xây dựng và tính giá thành công trình tại công ty cổ phần Sông Đà 1”.
-         Trình bày một cách có hệ thống và làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản áp dụng trong kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành công trình tại công ty.
-         Nghiên cứu thực trạng kế toán chi phí xây dựng và tính giá thành công trình tại công ty cổ phần Sông Đà 1. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn khảo sát tại công ty để đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí xây dựng và tính giá thành công trình.
a)     Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu sâu về công tác kế toán tập hợp chi phí xây dựng và tính giá thành công trình tại công ty cổ phần Sông Đà 1.
b)     Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
-         Phạm vi về nội dung: Khóa luận nghiên cứu kế toán tập hợp chi phí xây dựng và tính giá thành công trình tại công ty cổ phần Sông Đà 1.
-         Phạm vi về không gian: Đề tài được thực hiện tại công ty cổ phần Sông Đà 1.
-         Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu công tác kế toán chi phí xây dựng và tính giá thành công trình trong quý 1 năm 2011.
Ngoài các phương pháp nhận thực khoa học, đề tài sử dụng các phương pháp đặc trưng như sau:
-         Phương pháp thu thập và xử lý số liệu và số học
-         Phương pháp phân tích tổng hợp
-         Phương pháp so sánh
-         Các phương pháp kế toán khác
Nội dung  đề tài khóa luận được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán chi phí xây dựng và tính giá thành công trình trong doanh nghiệp xây dựng.
Chương 2: Thực trạng kế toán chi phí xây dựng và tính giá thành công trình tại công ty cổ phần Sông Đà 1.
Chương 3: Các kết luận và đề xuất về kế toán chi phí xây dựng và tính giá thành công trình tại công ty cổ phần Sông Đà 1.

a)     Khái niệm
Cũng như các ngành SX vật chất khác, DN xây dựng muốn tiến hành hoạt động SXKD ra SPXD thì tất yếu phải có ba yếu tố cơ bản đó là:
- Tư liệu lao động (Nhà xưởng, máy móc, thiết bị và những TSCĐ khác).
- Đối tượng lao động (nguyên vật liệu, nhiên liệu …).
- Sức lao động: lao động của con người.
Sự tham gia của các yếu tố này vào quá trình sản xuất khác nhau dẫn đến sự hình thành các hao phí tương ứng: hao phí lao động vật hóa và hao phí lao động sống. Trong nền sản xuất hàng hóa các hao phí trên được biểu hiện bằng tiền gọi là CPSXKD. Những chi phí liên quan đến việc sản xuất chế tạo sản phẩm (lao vụ, dịch vụ) mới được gọi là CPSX.
Như vậy, CP xây dựng của doanh nghiệp xây dựng là biểu hiện bằng tiền về lao động sống và lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà DN đã chi ra để tiến hành hoạt động sản xuất tạo ra sản phẩm xây dựng trong một thời kì nhất định.
b)     Phân loại:
+ Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp: Là CP của các nguyên liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, các cấu kiện, các bộ phận kết cấu công trình,vật liệu luân chuyển… cần thiết để tham gia cấu thành thực thể SPXD hoặc giúp cho việc thực hiện và hoàn thành khối lượng XD.( không kể vật liệu cho máy móc thi công và hoạt động sản xuất chung)
+ Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm tiền lương, tiền công phải trả cho số ngày công lao động của công nhân trực tiếp thực hiện khối lượng công tác XD, công nhân phục vụ xây, lắp, không phân biệt công nhân trong danh sách hay thuê ngoài. Không bao gồm các khoản trích theo tiền lương như KPCĐ, BHXH, BHYT của công nhân trực tiếp XD.
+ Chi phí sử dụng máy thi công: là toàn bộ chi phí về vật liệu, nhân công và các chi phí khác có liên quan đến sử dụng máy thi công. CP sử dụng máy thi công bao gồm CP thường xuyên và CP tạm thời:
* Chi phí thường xuyên sử dụng máy thi công gồm: Lương chính, lương phụ của công nhân điều khiển máy, phục vụ máy, chi phí về nhiên liệu, động lực, vật liệu dùng cho máy thi công, khấu hao, tiền thuê máy thi công…
* Chi phí tạm thời sử dụng máy thi công gồm: là những chi phí phải phân bổ dần theo thời gian sử dụng của máy thi công như: CP tháo lắp, vận chuyển, chạy thử máy thi công…CP tạm thời có thể phát sinh trước (được hạch toán vào TK 142,242) sau đó được phân bổ dần vào bên Nợ TK 623. Hoặc phát sinh sau nhưng phải tính trước vào CPXD trong kỳ(ghi Nợ TK 623, Có TK 335).
+ CPSX chung: là những chi phí có liên quan đến việc tổ chức, phục vụ và quản lý thi công của các ĐXD ở các công trường xây dựng như: tiền lương nhân viên quản lý đội, khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân trực tiếp XD, công nhân sử dụng máy thi công và nhân viên quản lý đội (thuộc biên chế của doanh nghiệp) khấu hao TSCĐ và những chi phí khác liên quan đến hoạt động chung của ĐXD.
CP trực tiếp: Là CP phát sinh liên quan trực tiếp đến từng đối tượng kế toán tập hợp chi phí như từng CT, HMCT và có thể hạch toán trực tiếp cho từng CT, HMCT đó căn cứ trên các chứng từ gốc phát sinh.
CP gián tiếp: Là CP phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp CP, do đó không thể hạch toán trực tiếp mà kế toán phải phân bổ theo tiêu thức thích hợp.
    Theo cách này, những CP có cùng nội dung, tính chất kinh tế thì được xếp vào một loại gọi là yếu tố chi phí không phân biệt CP đó phát sinh ở đâu có tác dụng thế nào.
    + Yếu tố CP NVL: gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chính, vật liệu, phụ tùng thay thế.. sử dụng trong SXKD như: gạch, đá, vôi, xi măng, sắt thép...
    + Yếu tố CP NC: bao gồm tiền lương chính, lương phụ, các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ, các khoản khác.
    + Yếu tố CP KHTSCĐ: là toàn bộ số khấu hao của các loại TSCĐ.
    + Yếu tố CP dịch vụ mua ngoài: là số tiền trả về các loại dịch vụ mua ngoài phục vụ cho SXKD trong DN như CP thuê máy, CP điện nước...
    - Yếu tố CP khác bằng tiền: là toàn bộ số CP phát sinh trong quá trình thi công xây dựng ngoài bốn yếu tố chi phí trên.
Ngoài ra còn một số cách phân loại CPSX khác nhưng ba cách phân loại trên được các doanh nghiệp áp dụng phổ biến.
a)     Khái niệm giá thành công trình
Đối với SPXD,  " GTSP là  toàn bộ CPXD bao gồm CP vật liệu, CP nhân công, CP sử dụng máy thi công, CP khác tính cho từng công trình, HMCT hay khối lượng xây dựng hoàn thành đến giai đoạn quy ước đã hoàn thành nghiệm thu, bàn giao được thanh toán hoặc được chấp nhận thanh toán".
    Khác với GTSP trong các loại hình DN sản xuất khác, mỗi công trình, HMCT sau khi hoàn thành đều có giá thành riêng.

              Đối với hoạt động nhận thầu, SP xây dựng được xác định giá bán trước khi SX, giá thanh toán công trình chính là giá doanh nghiệp nhận thầu. Mặt khác, mỗi công trình, HMCT hoàn thành đều có một giá thành riêng. Trong trường hợp này GTSP xây dựng không có chức năng lập giá. Giá thành công trình không là căn cứ để doanh nghiệp xác định giá bán mà quyết định tới lãi, lỗ của việc thi công, đánh giá chất lượng công tác quản lý hoạt động SXKD của DNXD còn giá nhận thầu xây lắp mới biểu hiện giá trị của công trình.
Nhăn tin để tải báo cáo thực tập với phí 5k

Post a Comment