Trong hoạt động ngân hàng, hoạt động tín
dụng là hoạt động cơ bản , đem lại nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng. Tuy nhiên,
cùng với việc đem lại thu nhập đáng kể cho ngân hàng thì lĩnh vực tín dụng cũng
là lĩnh vực có rủi ro cao nhất. Hậu quả của rủi ro tín dụng thường rất nặng nề,
làm tăng thêm chi phí ngân hàng, thu nhập lãi bị chậm hoặc mất đi cùng với sự
thất thoát vốn vay, làm xấu đi tình hình tài chính và cuối cùng làm tổn hại đến
uy tín và vị thế của ngân hàng.
Rủi ro tín dụng luôn song hành cùng với
hoạt động tín dụng , không thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro tín dụng mà chỉ có thể
áp dụng các biện pháp quản trị rủi ro tín dụng để giảm thiểu rủi ro đến mức tối
đa khi nó xảy ra. Đứng trên quan điểm quản trị rủi ro tín dụng nói chung và
quản trị rủi ro trong cho vay doanh nghiệp nói riêng, một tỷ lệ tổn thất dự
kiến đối với hoạt động tín dụng luôn phải được xác định trước trong chiến lược
hoạt động chung. Khi ngân hàng kinh doanh với một mức tổn thất thấp hơn mức tỷ
lệ tổn thất dự kiến thì đó là sự thành công trong quản trị rủi ro. Ngân hàng phải bằng nhiều biện pháp tác động đến hoạt
động tín dụng để hạn chế tối đa rủi ro tín dụng nhằm góp phần đạ tới mục tiêu
hoạt động tín dụng an toàn, hiệu quả trong tăng trưởng.
Hiện nay, trước những quy định và yêu cầu
của chính phủ, của ngân hàng nhà nước các ngân hàng thương mại Việt Nam đang
tích cực xây dựng chính sách, chiến lược và đề ra những biện pháp thực hiện để
hạn chế RRTD. Và không nằm ngoài xu thế trên, ngân hàng thương mại cổ phần Sài
Gòn đã và đang xây dựng cho mình một hệ thống kiểm soát RRTD nhằm hạn chế tối
đa RRTD có thể xảy ra. Khách hàng chủ yếu của ngân hàng là những doanh nghiệp
và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
phụ thuộc rất nhiều vào sự biến động môi trường kinh doanh. Khi doanh nghiệp
hoạt động không hiệu quả họ không có khả năng trả một phần lãi và gốc hoặc toàn
bộ lãi và gốc. Bên cạnh đó, việc doanh nghiệp có trả nợ hay không cũng phụ
thuộc rất nhiều vào yếu tố đạo đức. Như vậy, khi khách hàng không trả nợ hay
trả nợ không đúng hạn thì đều ảnh hưởng
không tốt đến uy tín và hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Do đó, quản trị
RRTD luôn là vấn đề mang tính cấp bách thường trực trong hoạt động của ngân
hàng .
Vì mục tiêu an toàn, phát triển bền vững
và hoạt động có hiệu quả, Ngân hàng SCB cũng đã ban hành rất nhiều quy định để
quản trị RRTD. Mặc dù áp dụng quy tắc, biện pháp trong quản trị và quản trị rủi
ro của hệ thống ngân hàng SCB nhưng do đặc thù kinh doanh riêng của SCB-CNHN
nên vẫn tồn tại một số điểm hạn chế cần khắc phục và hoàn thiện trong công tác
quản trị RRTD trong cho vay doanh nghiệp.
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn nêu
trên, tác gải mạnh dạn lựa chọn đề tài “Quản
trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng thương
mại cổ phần Sài Gòn- chi nhánh Hà Nội” làm khóa luận tốt nghiệp cho mình
với mong muốn tiếp tục quá trình nghiên cứu và đưa ra giải pháp hữu hiệu trong
quá trình quản trị RRTD trong hoạt động cho vay doanh nghiệp tại ngân
hàng thương mại cổ phẩn Sài Gòn- chi nhánh Hà Nội nói riêng và hệ thống NHTM nói chung để nâng cao
khả năng cạnh tranh của các NHTM Việt Nam trong quá trình hội nhập
Phân tích đánh giá về thực trạng công tác
quản trị RRTD trong cho vay doanh nghiệp của SCB-CNHN để thấy được nguyên nhân
nào dẫn đến RRTD trong cho vay DN tại SCB-CNHN và thực tế SCB-CNHN đã sử dụng
công cụ, biện pháp nào là tốt nhất.
Kết hợp lý luận và thực tiễn các vấn đề
tồn tại để đề xuất các giải pháp, các hướng giải quyết, các công cụ nhằm góp
phần hoàn thiện công tác quản trị RRTD trong cho vay doanh nghiệp tại SCB-CNHN.
Về đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu
về công tác quản trị RRTD, Nguyên nhân dẫn tới RRTD trong hoạt động cho vay
doanh nghiệp và các biện quản trị rủi ro tại CNHN từ đó đề xuất các kiến nghị
và các giải pháp góp phần hoàn thiện công tác này tại CNHN, số liệu nghiên cứu
được giới hạn trong giai đoạn 2009-2011.
4. Phương pháp nghiên cứu
Qua việc
sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp chỉ số, phương pháp
so sánh khái quát hóa và phương pháp tổng hợp, kết hợp với việc sử dụng số liệu
thống kê và mô hình ước lượng để luận chứng, chỉ ra những khó khăn, hạn chế
trong công tác quản trị rủi ro của chi nhánh, từ đó có cơ sở để đưa ra kiến
nghị và giải pháp.
- Phương
pháp tổng hợp
Từ các dữ liệu đã thu thập được tiến
hành tổng hợp lại theo các tiêu thức cần thiết, sau đó thống kê các kết quả,
các con số theo các tiêu thức đó như số liệu tình hình nợ xấu các năm, kết quả
báo cáo tài chính của ngân hàng…
- Phương
pháp so sánh: dựa trên các báo cáo tổng hợp, các số
liệu thứ cấp, tiến hành so sánh mức chênh lệch, độ thay đổi qua các năm, giữa
các tiêu thức để rút ra kết luận về sự tăng trưởng, hoạt động, nhân tố nào
chiếm vị trí quan trọng. Điều kiện so sánh các số liệu phải phù hợp về không
gian, thời gian, nội dung kinh tế, đơn vị đo lường, phương pháp tính toán, quy
mô và điều kiện kinh doanh
- Phương
pháp quy nạp: nhận định từ những vấn đề nhỏ, chi
tiết rồi mới đi đến kết luận chung của vấn đề cần phân tích
- Phương
pháp thống kê: tổng hợp các dữ liệu sơ cấp và thứ cấp
thu được từ đó hình thành nên các bảng số liệu, các biểu so sánh để thấy được
xu hướng của sự biến đổi. Phân tích các thông tin, xem xét sự tác động, tương
tác giữa các yếu tố, chiều hướng hoạt động của chúng như thế nào.Phân tích thực
trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng để xem hiệu quả công tác quản trị rủi
ro tín dụng trong hoạt động cho vay đến đâu, sự tác động của các yếu tố môi
trường đến công tác quản trị.
Chương
1: Những lý luận cơ bản về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng của ngân
hàng thương mại .
Chương
2 : Thực trạng, tình hình quản trị rủi ro tín dụng tín dụng trong hoạt động cho
vay doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn- chi nhánh Hà Nội.
Chương
3 : Giải pháp quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay doanh nghiệp tại
ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn- chi nhánh Hà Nội.
Post a Comment