Bất kỳ một doanh nghiệp nào, đế tiến hành
hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải có đủ cả ba yếu tố cơ bản đó là: Tư liệu
lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Quá trình sản xuất là quá trình
kết hợp cả ba yếu tố trên để tạo ra các loại sản phẩm lao vụ và dịch vụ. Sự
tiêu hao các yếu tố này trong quá trình sản xuất kinh doanh đã tạo ra các chi
phí tương ứng, đó là các chi phí về tư liệu lao động, chi phí về đối tượng lao
động và chi phí về lao động sống.
* Khái niệm chi phí
- Theo
chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 “Chuẩn mực chung”: Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm
lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các
khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở
hữu, không bao gồm các khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu.
* Khái niệm chi phí sản xuất.
Quá trình sản xuất sản phẩm ở các DNSX công
nghiệp chính là doanh nghiệp phải bỏ ra các chi phí cho sản xuất. Đó là các hao
phí về tư liệu lao động, đối tượng lao động và lao động sống. Để xác định tổng
hợp được các chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra trong từng thời kỳ hoạt động thì
mọi chi phí chi ra đều phải biểu hiện bằng thước đo tiền tệ.
- Theo Luật kế
toán Việt Nam: Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ
các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra có
liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định như
tháng, quý, năm.
Trong đó:
+ Chi phí
lao động sống: là những chi phí trả cho lao động là con người tham gia vào quá
trình sản xuất như các khoản lương, thưởng, phụ cấp và các khoản trích theo
lương.
+ Chi phí về lao động vật
hoá: là những chi phí sử dụng các yếu tố tư liệu lao động, đối tượng lao động
như chi phí nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ, máy móc thiết bị… phục vụ cho
sản xuất sản phẩm.
- Xét về bản chất, chi phí sản xuất kinh doanh
là sự dịch chuyển vốn của doanh nghiệp vào đối tượng tính giá thành nhất định,
nó là vốn của doanh nghiệp bỏ vào quá trình sản xuất kinh doanh. Xuất phát từ
mục đích và nguyên tắc kinh doanh trong nền kinh tế thị trường thì mọi sản phẩm
khi nó được tạo ra luôn được các doanh nghiệp quan tâm đến hiệu quả nó mang
lại. Vì vậy để quản lý có hiệu quả và kịp thời đối với hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình, doanh nghiệp luôn cần biết số chi phí đã chi ra cho từng loại
hoạt động, từng loại sản phẩm, dịch vụ là bao nhiêu, số chi phí đã chi ra đã
cấu thành trong số sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn thành là bao nhiêu, tỷ trọng
từng loại chi phí, khả năng hạ thấp các chi phí này…
* Khái niệm chi phí nguyên vật liệu
trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung.
CPSX được chia thành 3 loại: chi phí NVLTT,
chi phí NCTT, chi phí SXC.
- Chi
phí NVLTT: là toàn bộ chi phí nguyên
vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, vật liệu khác…được sử dụng trực tiếp cho
quá trình sản xuất và chế tạo sản phẩm, lao vụ, dịch vụ.
- Chi phí NCTT: Chi phí nhân công trực
tiếp là các chi phí phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm như tiền
lương, các khoản phụ cấp, các khoản bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn, bảo
hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trích theo tiền lương của công nhân trực tiếp
sản xuất.
- Chi phí SXC: là toàn bộ các khoản mục
chi phí sản xuất ngoại trừ chi phí NVLTT, chi phí NCTT. Chi phí sản xuất chung
bao gồm các yếu tố chi phí như sau:
+ Chi phí nhân viên phân xưởng: Bao gồm chi phí tiền lương, các
khoản phải trả, các khoản trích theo lương của nhân viên phân xưởng, đội sản
xuất.
+ Chi phí vật liệu: Bao gồm chi phí vật liệu dùng chung
cho phân xưởng sản xuất với mục đích là phục vụ và quản lý sản xuất.
+ Chi phí dụng cụ: Bao gồm chi phí về công cụ, dụng cụ
dùng ở phân xưởng để phục vụ sản xuất và quản lý sản xuất.
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định: Bao
gồm toàn bộ chi phí khấu hao của TSCĐ thuộc các phân xưởng sản xuất quản lý và
sử dụng.
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm các chi phí dịch vụ mua
ngoài dùng cho hoạt động phục vụ và quản lý sản xuất của phân xưởng, đội sản
xuất.
+ Chi phí khác bằng tiền: Là các khoản chi trực tiếp bằng
tiền dùng cho việc phục vụ và quản lý phân xưởng sản xuất.
- Giá
thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền các chi phí sản xuất tính cho một
khối lượng sản phẩm (lao vụ, dịch vụ) nhất định đã hoàn thành.
Giá thành sản xuất sản phẩm được xác định bao
gồm những chi phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí khác được
dùng để sản xuất hoàn thành một khối lượng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ nhất định.
-
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kịnh tế tổng hợp phản
ánh chất lượng hoạt
động sản xuất, kết quả sử dụng lao động, vật tư, tiền
vốn trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp. Đồng thời, giá thành phản ánh
các giải pháp tổ chức sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh cho
doanh nghiệp.
Trong
hệ thống các chỉ tiêu quản lý của doanh nghiệp, giá thành sản phẩm là chỉ tiêu
kinh tế tổng hợp, phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất, kết quả sử dụng lao
động, vật tư, tiền vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh, cũng như tính đúng
đắn của những giải pháp quản lý mà doanh nghiệp đã thực hiện nhằm mục đích hạ
thấp chi phí, tăng cao lợi nhuận.
*Phân loại CPSX theo mục đích, công
dụng của chi phí. Theo cách phân loại này CPSX bao gồm:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là
toàn bộ các chi phí phí nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, vật liệu khác…được
sử dụng trực tiếp để sản xuất sản phẩm.
- Chi phí nhân công trực tiếp: là các chi
phí phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm như tiền lương, các
khoản phụ cấp, các khoản KPCĐ, BHXH, BHYT, BHTN trích theo tiền lương của công
nhân trực tiếp sản xuất.
- Chi phí sản xuất chung: là các khoản chi
phí sản xuất ngoại trừ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công
trực tiếp như: chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí khấu hao TSCĐ dùng cho sản
xuất…
Phân loại CPSX theo cách này giúp nhà
quản lý định mức chi phí, cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành sản phẩm
của doanh nghiệp.
* Phân loại chi phí sản xuất theo nội
dung, tính chất kinh tế của chi phí
Theo cách phân loại này, những chi phí có
tính chất, nội dung kinh tế giống nhau xếp vào một yếu tố, không phân biệt chi
phí đó phát sinh trong lĩnh vực hoạt động nào, ở đâu.
Toàn bộ cpsx của doanh nghiệp được
chia thành các yếu tố sau:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu.
- Chi phí nhân công..
- Chi phí khấu hao TSCĐ.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài.
- Chi phí khác bằng tiền.
Phân loại chi phí theo tiêu thức
này cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng loại
chi phí sản xuất mà doanh nghiệp đã chỉ ra để lập bản thuyết minh báo cáo tài
chính, phân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí và lập dự toán chi phí cho
kỳ sau.
* Theo mối quan hệ với mức độ hoạt
động:
Theo tiêu
thức này CPSX chia thành 3 loại:
- Chi phí khả biến( biến phí): là những
chi phí có sự thay đổi về lượng tương quan tỷ lệ thuận với sự thay đổi của khối
lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ.
Tuy nhiên, nếu tính biến phí cho một đơn vị
sản phẩm thì đây là khoản chi phí ổn định, không thay đổi.
Thuộc loại chi phí
này có: Chi phí NVLTT, chi phí NCTT
- Chi
phí bất biến( định phí): là những khoản chi phí không biến đổi khi mức độ
hoạt động thay đổi, nhưng khi tính cho một đơn vị hoạt động thì chi phí này
thay đổi.
Chi phí bất biến trong các doanh nghiệp bao
gồm: chi phí khấu hao TSCĐ, lương nhân viên quản lý…
- Chi phí hỗn hợp: là các chi phí mà bản thân nó gồm
các yếu tố của định phí và biến phí, ở mức độ hoạt động nhất định chi phí hỗn
hợp thể hiện các đặc điểm của định phí, nếu quá mức đó nó thể hiện đặc tính của
biến phí. Thuộc loại chi phí này có: chi phí điện thoại, FAX…
Phân loại theo cách này giúp phân tích
tình hình tiết kiệm chi phí sản xuất và xác định các biện pháp thích hợp để hạ
thấp CPSX cho một đơn vị sản phẩm.
* Theo phương pháp tập hợp chi phí và
đối tượng chịu chi phí
Theo cách
phân loại này CPSX gồm:
- Chi phí trực tiếp: là những chi phí có
quan hệ trực tiếp đến sản xuất ra một loại sản phẩm, một công việc nhất định.
Với những chi phí này kế toán có thể căn cứ số liệu từ chứng từ kế toán để ghi
trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí.
- Chi phí gián tiếp: là những CPSX có liên quan đến việc
sản xuất ra nhiều loại sản phẩm, nhiều công
việc. Đối với những chi phí này kế toán phải tập hợp lại cuối kỳ tiến hành phân
bổ cho các đối tượng liên quan theo những tiêu thức nhất định.
Phân loại
theo cách này giúp xác định phương pháp kế toán tập hợp và phân bổ cho các đối
tượng được đúng đắn và hợp lý.
* Phân loại cpsx theo chức năng hoạt
động cpsx sản phẩm gồm 2 loại cpsx và chi phí ngoài sản xuất.
- Chi phí sản xuất bao gồm:
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
+ Chi phí
nhân công trực tiếp.
+ Chi phí sản xuất chung.
- Chi
phí ngoài sản xuất bao gồm chi phía bán hàng và chi phí quản lý doanh
nghiệp:
+ Chi phí bán hàng: là chi phí lưu thông
và chi phí tiếp thị phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, lao
vụ, dịch vụ. Loại chi phí này có: Chi phí quảng cáo, giao hàng, giao dịch, hoa
hồng bán hàng, chi phí nhân viên bán hàng và chi phí khác gắn liền đến bảo quản
và tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá.
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là các khoản chi phí lien quan đến
việc phục vụ và quản lý sản xuất kinh doanh có tính chất chung toàn doanh
nghiệp.
Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm: Chi
phí nhân viên quản lý, chi phí vật liệu quản lý, chi phí đồ dùng văn phòng-
khấu hao TSCĐ dùng chung cho toàn doanh nghiệp, các loại thuế, phí có tính chất
chi phí, chi phí khánh tiết, hội nghị.
CPSX trong các doanh nghiệp sản xuất gồm
nhiều loại với nội dung kinh tế, công dụng, địa điểm khác nhau. Do đó để hạch
toán đúng đắn CPSX cần xác định những phạm vi, giới hạn mà CPSX cần tập hợp -
đối tượng tập hợp CPSX.
Xác định đối tượng tập hợp CPSX là khâu
đầu tiên, cần thiết cho công tác kế toán tập hợp CPSX. Doanh nghiệp chỉ có thể
tổ chức tốt công tác kế toán CPSX nếu xác định đối tượng tập hợp CPSX phù hợp
với đặc điểm sản xuất, yêu cầu quản lý CPSX của doanh nghiệp.
Để xác định đúng đối tượng tập hợp CPSX
cần căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất của doanh nghiệp, quy trình công nghệ
sản xuất sản phẩm, địa điểm phát sinh chi phí, mục đích, công dụng của chi phí,
yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp.
Từ
những căn cứ trên, đối tượng tập hợp chi phí có thể là: từng phân xưởng, bộ
phận, tổ đội sản xuất hoặc toàn doanh nghiệp, từng giai đoạn công nghệ hoặc
toàn bộ quy trình công nghệ, từng sản phẩm, đơn đặt hàng, từng nhóm sản phẩm
hoặc bộ phận, chi tiết sản phẩm.
Tập hợp CPSX theo đúng đối tượng qui định
có tác dụng phục vụ tốt cho việc quản lý sản xuất, hạch toán kinh tế nội bộ và
tính giá thành sản phẩm kịp thời, chính xác.
Trong quá trình sản xuất sản phẩm ở các
doanh nghiệp thường phát sinh nhiều loại CPSX khác nhau. Những chi phí này có
thể liên quan đến một hay nhiều đối tượng tập hợp chi phí. Để tập hợp CPSX
chính xác chúng ta có thế sử dụng một trong hai phương pháp sau:
MỤC LỤC
|
|
|
|
Nhan tin de tai luan van bao cao nayf :
Post a Comment