Hiện
nay, toàn cầu hóa là một xu hướng nổi trội và đã trở thành môi trường diễn ra
các cuộc cạnh tranh gay gắt giữa các nước trên phạm vi toàn thế giới. Những nước
và những tổ chức kinh tế yếu thế thường thích ứng bị động. Trong khi đó, những
nước và những tổ chức có tiềm lực và thế lực mạnh lại coi nó là cơ hội tạo đà
phát triển. Cho dù vậy, toàn cầu hóa vẫn đã, đang và sẽ diễn ra, chi phối dưới
nhiều hình thức, nhiều mức độ khác nhau đối với tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã
hội của hầu hết các nước, đặc biệt là các tổ chức kinh tế trong từng quốc gia
cũng như trên toàn thế giới.
Cuối năm 2006, để gia nhập WTO, chính phủ Việt Nam ký kết nhiều văn bản
với nội dung mở cửa thị trường, đa
phương hoá thương mại đã khiến các doanh nghiệp Việt Nam phải bước vào cuộc
chạy đua với thử thách và rủi ro. Việc tìm kiếm cơ hội đối với các doanh nghiệp
đã trở thành bài toán vô cùng nan giải. Xu hướng toàn cầu hoá, khủng hoảng, lạm
phát gây ra nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp cả về vốn, công nghệ, nhân lực.
Nhìn một cách khách quan, có thể nói hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh
nghiệp Việt Nam nói chung còn khá yếu, thể hiện trên nhiều mặt như: chất lượng
hoàng hóa chưa cao, chưa đủ đáp ứng cho nhu cầu và đòi hỏi của thị trường trong
nước, khả năng thâm nhập thị trường khu vực và thế giới còn hạn chế.
Câu hỏi đặt ra cho tất cả các doanh nghiệp là: phải xoay xở và ứng biến như
thế nào để vượt qua được thử thách? Câu hỏi có lẽ không chỉ khó trả lời đối với các doanh nghiệp nhỏ vì
họ không có lợi thế về quy mô để giảm chi phí và tăng lợi nhuận mà ngay cả
những công ty, tập đoàn có thế mạnh cũng đang đi tìm đáp án. Miếng bánh thị
trường không còn nằm trong tay của 1 đơn vị, một tổ chức nào cả và các doanh
nghiệp lại càng không thể cấm các doanh nghiệp khác cùng tham gia vào thị
trường đó. Vậy họ sẽ phải làm gì để tồn tại và phát triển trong khi mức độ cạnh
tranh ngày càng gay gắt?
Bên cạnh đó, dễ dàng nhận thấy may mặc đang là ngành thế mạnh của các doanh
nghiệp Việt Nam và nó chiếm tỷ trọng khá lớn trong kim ngạch xuất nhập khẩu.
Càng ngày càng có nhiều hơn các đơn vị sản xuất kinh doanh tham gia vào thị
trường này khiến cho mức độ cạnh tranh trong nước trở nên gay gắt. Các công ty
lớn, đã tạo dựng thương hiệu thì tiếp tục khai thác thị trường, củng cố thêm
thương hiệu của mình và giành giật lại thị phần trong nước còn bỏ ngỏ. Các công
ty mới gia nhập thị trường thì tập trung khai thác chủ yếu vào mặt hàng gia
công xuất khẩu để tìm chỗ đứng. Tuy nhiên, cuộc cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp cùng tham gia sản xuất kinh doanh các mặt hàng tương tự trong ngành may
đang là nỗi băn khoăn trăn trở của không ít doanh nghiệp. Họ sẽ phải làm gì khi
có thêm các đối thủ cùng tham gia phân chia miếng bánh thị phần? Họ sẽ hành
động như thế nào nếu đối thủ của họ có những chiến lược giảm giá hay đơn giản,
mỗi doanh nghiệp sẽ làm gì để tạo thế mạnh, nâng cao sức cạnh tranh của mình
hơn nữa?
Nền kinh tế đang có những biến động từng ngày, từng giờ nên bản thân mỗi
doanh nghiệp phải tự đổi mới, tự củng cố thêm sức mạnh của mình để có thể tồn
tại và phát triển. Khắc phục nhược điểm, củng cố những thế mạnh và xác định các
chiến lược của mình trong mọi trước mọi hành động của đối thủ chính là nâng cao
sức mạnh cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Xuất phát từ các lý do trên, rõ ràng việc nghiên cứu đề tài này là cần
thiết trong bối cảnh nền kinh tế đang không ngừng biến đổi.
Lý thuyết trò chơi và nâng cao năng lực cạnh tranh là một trong những vấn
đề đã được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Chúng ta có thể tổng quan các
công trình nghiên cứu đã thực hiện của những năm trước như sau:
Nghiên cứu khoa học của tác giả Nguyễn Thị Thơ (2011) về ứng dụng LTTC vào
hoạt động quản lý nhân sự trong doanh nghiệp Việt Nam. Tác giả dựa trên cơ sở
lý luận về các LTTC để phân tích việc ra quyết định trong hành động tuyển mộ,
sử dụng và quản lý nhân sự của các doanh nghiệp Việt. Thông qua một số trò chơi
và cách thức tham gia trò chơi, tác giả đã đánh giá hoạt động quản lý nhân sự
tại Việt Nam nói chung, từ đó tiếp cận LTTC để phân tích những
trò chơi cơ bản trong hoạt động quản lý nhân sự bằng cách xác đinh: người chơi,
chiến lược và kết cục trong từng trò chơi. Trong các giai đoạn: tuyển dụng, bố
trí và sử dụng, đào tạo và phát triển, lương bổng và đãi ngộ, ở mỗi giai đoạn
lại có những cách thức và những loại trò chơi khác nhau để ứng dụng thực tiễn
nhằm nâng cao quản lý con người trong doanh nghiệp. Tuy nhiên do đề tài nghiên
cứu trong phạm vi khá lớn là các doanh nghiệp Việt Nam nên chưa chỉ ra loại trò
chơi nào thì ứng dụng cho quản lý nhân sự ở loại hình doanh nghiệp nào bởi nền
kinh tế Việt Nam là tổng hòa của rất nhiều loại hình doanh nghiệp cũng như mô
hình các công ty lớn nhỏ khác nhau nên cách thức quản lý nhân sự cũng khác nhau.
Cùng nghiên cứu về LTTC nhưng vận dụng
để phân tích quyết định của hãng taxi Mai Linh, tác giả Phạm Thu Hà (2011) đã nghiên
cứu sâu sát về lý thuyết trò chơi cùng với các ứng dụng của nó thông qua việc
lập các ma trận lợi ích của 2 hãng taxi Mai Linh và Vạn Xuân để từ đó tìm ra
các thế mạnh của Mai Linh trong cuộc cạnh tranh về giá giữa 2 hãng và từ thế
mạnh đó, hãng có thể quyết định chiến lược giá của mình trước mọi hành động của
Vạn Xuân. LTTC là một lý thuyết khó, các mô hình xây dựng trên một loạt những
hàm định tính nhưng đề tài đã ứng dụng được nó trong việc ra quyết định về giá
để tạo thế cạnh tranh so với đối thủ. Tiếp cận LTTC, tìm ra thế cân bằng Nash,
tác giả đã tiếp cận LTTC thông qua 3 mô hình: Cournot, Stackelberg, Bertrand để
vận dụng linh hoạt trong thực tiễn nhưng đề tài còn một số hạn chế như chưa vận
dụng LTTC vào chiến lược giá và quảng cáo bởi đây là 2 chiến lược quan trọng để
nâng cao vị thế cạnh tranh cho hãng. Giảm giá không phải là chiến lược luôn
đúng vì nó còn phụ thuộc vào chi phí. Chính bởi vậy mà cần có nhiều hơn chiến
lược giá để nâng cao năng lực cạnh tranh cho hãng. Đó là những ưu điểm và nhược
điểm của đề tài “Vận dụng mô hình lý thuyết
trò chơi để phân tích quyết định quản lý của hãng taxi Mai Linh trong thị trường độc quyền nhóm
taxi và một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của hãng trên địa
bàn Hà Nội”.
Rõ ràng nhận thấy LTTC là một lý thuyết
có tính ứng dụng cao và đã có một số công trình nghiên cứu tính ứng dụng rộng
rãi của nó trong thực tiễn. Điển hình cuốn sách“ Một số ứng dụng của lý thuyết
trò chơi” do tác giả Nguyễn Văn Hoàng tổng hợp từ cuốn “ Kinh tế học vi mô”,
chủ biên Robert S.Pindyck và Daniel L. Rubinfeld, Nhà xuất bản khoa học kỹ
thuật (2010) đã không chỉ cho người đọc thấy được các mô hình trò chơi trong lý
thuyết mà còn có cả những ứng dụng điển hình mà một số hãng nổi tiếng trên thế
giới đã áp dụng vào chiến lược giá cả. Đồng thời, cuốn sách còn cho thấy tính
cứng nhắc của yếu tố giá và cách thức ra quyết định quản lý: hành động theo thế
mạnh của mình hay cấu kết với hãng khác
để đạt lợi nhuận lớn nhất trong điều kiện tất cả người chơi đều hiểu rõ đối
thủ. Ở mỗi chiến lược cụ thể như: cạnh tranh về giá, trò chơi hợp tác và không
hợp tác, chiến lược thu phục, ngăn chặn người mới vào hay lợi thế của người đi
trước đều có những ví dụ vận dụng điển hình trong thực tiễn. Qua đó cho thấy,
LTTC có một ý nghĩa sâu sắc nếu các doanh nghiệp vận dụng linh hoạt vào hoạt
động kinh doanh của mình. Tuy nhiên,
cuốn sách vẫn chưa đề cập sâu sắc tới chiến lược sản phẩm cũng như quảng cáo mà
lại đi sâu phân tích các quyết định về giá trong từng trường hợp ứng dụng. Các
mô hình xây dựng chủ yếu dùng để phân tích quyết định về giá nên đây chính là
một số hạn chế của cuốn sách.
Với đề
tài nghiên cứu khoa học “ Nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu cá tra, cá ba
sa của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ trong giai đoạn hiện nay”, tác giả Nguyễn
Ngọc Nam, Đào Huy Trường (2011) đã tiếp cận năng lực cạnh tranh đối với mặt
hàng tiêu biểu của Việt Nam là cá tra và cá ba sa trên các khía cạnh như sản
lượng và kim ngạch sản phẩm trên thị trường Hoa Kỳ và thị phần xuất khẩu để từ
đó đánh giá khách quan khả năng cạnh tranh của mặt hàng này trên thị trường
đến. Thông qua các nhân tố chủ quan và khách quan tác động tích cực và tiêu cực
đến các yếu tố trên đề tài tìm ra các giải pháp nhằm khắc phục hạn chế và nâng
cao năng lực cạnh tranh cho mặt hàng này trên thị trường Hoa Kỳ. Song đề tài
mới chỉ dừng lại ở các giải pháp chủ yếu cho hiệp hội Thủy sản Việt Nam và một
số cách nâng cao chất lượng sản phẩm mà chưa đi sâu khai thác chiến lược giá và
chiến lược sản phẩm cũng như các chiến lược quảng cáo mặc dù đây là mặt hàng
xuất khẩu nổi tiếng của Việt Nam.
Qua
tổng quan về các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài ở trên, ta thấy
mỗi công trình nghiên cứu đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định tùy thuộc
vào thời gian, không gian nghiên cứu và phạm vi áp dụng của nó. Khắc phục những
hạn chế, đồng thời kế thừa những điểm mạnh từ các công trình nghiên cứu trước,
tác giả chọn đề tài nghiên cứu về “Ứng dụng lý thuyết trò chơi để
phân tích khả năng cạnh tranh của công ty TNHH may Gia Nguyễn trên địa bàn các
tỉnh miền Bắc”. Tác giả
xử lý các số liệu thứ cấp thu thập trong quá trình thực tập tại công ty, sau đó
đi sâu vào phân tích cụ thể, đồng thời sử dụng phần mềm Eviews để ước lượng các
số liệu và các ma trận doanh thu trong từng chiến lược. Từ đó đưa ra các giải
pháp để có thẻ ứng dụng LTTC một cách tốt nhất trong hoạt động của công ty.
Nhận thấy tầm quan trọng của việc nâng
cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong chiến lược phát triển lâu dài,
chắc chắn mỗi doanh nghiệp phải tự định hướng cho mình những kế hoạch cụ thể.
Song, mỗi chiến lược cần phải dựa trên những cách tiếp cận đúng đắn, hợp lý và
mang tính thời sự cao trong bối cảnh nền kinh tế luôn biến động. Chính bởi vậy,
thông qua lý thuyết trò chơi, đã có rất nhiều doanh nghiệp tìm ra hướng phát
triển đúng đắn nên rất có thể, trong kinh doanh, cần ứng dụng nhiều hơn nữa lý
thuyết trò chơi để có thể tạo bước đột phá cho doanh nghiệp và công
ty TNHH may Gia Nguyễn cũng không phải ngoại lệ. Việc ứng dụng LTTC sẽ giúp
công ty trả lời được các câu hỏi: Có nên giảm giá mặt hàng may gia công trước
mọi hành động của đối thủ khác hay không? Nếu công ty bạn có chiến lược gia
tăng số lượng sản phẩm và quảng cáo thì công ty Gia Nguyễn sễ phải làm gì? Đâu
là thế mạnh của công ty và làm thế nào để tăng sức cạnh tranh hơn nữa so với
đối thủ?
Công ty TNHH may Gia Nguyễn xét trên địa
bàn tỉnh Thái Bình là một trong số những doanh nghiệp tiêu biểu, đi đầu trong
lĩnh vực may mặc. Với mong muốn vươn xa hơn trên thị trường miền Bắc, công ty
đang nỗ lực không ngừng và trong những năm qua đã khẳng định uy tín của mình
đối với các đối tác trong và ngoài nước. Chính bởi vậy,
nếu ứng dụng các mô hình trò chơi vào trong hoạt động kinh doanh của mình, công
ty sẽ tìm ra các lợi thế để từ đó có những quyết định đúng đắn lựa chọn chiến
lược cạnh tranh phù hợp.
Bên cạnh sự xuất hiện ngày càng nhiều hơn các công ty, xí nghiệp may với
nhiều dịch vụ, giá cả khác nhau để cạnh tranh nhau trên thị trường, chắc chắn
cần phải nghiên cứu tìm hiểu doanh nghiệp may Gia Nguyễn đã sử dụng các công cụ
kinh tế vào việc đưa ra các quyết định quản lý như thế nào để không những giữ
vững thị phần của mình mà còn mở rộng miếng bánh thị phần đó hơn nữa giữa môi
trường cạnh tranh khắc nghiệt như hiện nay.
Xuất phát từ thực tế đó, tác giả đã lựa
chọn nghiên cứu đề tài: Ứng dụng lý thuyết trò chơi để phân tích
khả năng cạnh tranh của công ty TNHH may Gia Nguyễn trên địa bàn các tỉnh miền
Bắc.
Những mục tiêu
chính mà đề tài tập trung nghiên cứu là:
Thứ nhất: Làm rõ một số lý luận liên quan đến thị trường độc quyền,
lý thuyết trò chơi, và phân tích lý thuyết trò chơi ứng dụng thế nào trong việc
đưa ra các quyết định chiến lược của các hãng.
Thứ hai: Nghiên cứu cụ thể lý thuyết trò chơi được ứng dụng thế
nào để công ty TNHH may Gia Nguyễn có thể đưa ra các quyết định chiến lược về
giá, sản lượng cũng như các chiến lược xác định thị trường mục tiêu để cạnh
tranh với các đối thủ khác trong tỉnh Thái Bình và vươn xa hơn trên địa bàn miền
Bắc thông qua các ước lượng đường cầu, ma trận lợi ích của công ty.
Thứ ba: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả các quyết
định của công ty để tăng khả năng cạnh tranh cũng như vị thế của doanh nghiệp
may Gia Nguyễn trên thị trường.
ü
Về mặt không gian: công ty TNHH may Gia
Nguyễn, địa chỉ thôn Bái Thượng - xã Thụy Phúc – huyện Thái Thụy – tỉnh Thái
Bình.
v
Phương pháp thu thập dữ liệu
Sau khi xác định được vấn đề và mục tiêu nghiên cứu, tác giả tiến hành thu
thập dữ liệu để phục vụ cho quá trình phân tích, đánh giá. Theo nguồn thu thập
dữ liệu thì dữ liệu được thu thập từ hai nguồn chính là dữ liệu sơ cấp và dữ
liệu thứ cấp.Với đề tài về ứng dụng lý thuyết trò chơi, dữ liệu tác giả sử dụng
trong bài chủ yếu là nguồn dữ liệu thứ cấp. Các dữ liệu đó là dữ liệu về doanh
thu, lợi nhuận, chi phí, giá cả và số lượng hàng hóa trong từng quý từ năm 2009
đến 2011 của công ty thông qua bảng cân đối kế toán, bản báo cáo tài chính
thường niên. Việc thu thập những dữ liệu này nhằm phục vụ cho quá trình phân
tích, đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty dựa trên 3 mặt giá cả, sản lượng
và quảng cáo thông qua các ma trận về doanh thu mà tác giả xây dựng.
v
Phương pháp phân tích số liệu
Các phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu:
Phương
pháp thống kê: Xử lý các số liệu đã
thu thập được thành 1 bảng thống kê theo các quý để so sánh, phân tích.
Phương
pháp biểu đồ, đồ thị: Là
phương pháp sử dụng con số kết hợp với các hình vẽ, đường nét và màu sắc để
trình bày các đặc điểm số lượng của hiện tượng. Sử dụng phương pháp này có nhiều
ưu điểm như giúp người đọc nhận thức được những đặc điểm cơ bản của hiện tượng
bằng trực quan một cách dễ dàng và nhanh chóng; giúp người xem dễ hiểu, dễ nhớ,
theo dõi và nắm bắt vấn đề nhanh hơn. Phương pháp này được tác giả sử dụng
trong bài để biểu diễn các số liệu thu thập được, qua đó để thấy rõ sự khác biệt
cũng như sự thay đổi của những số liệu này qua các năm.
Sử dụng phần
mềm ước lượng chuyên gia là phần mềm Eviews để xử lý bảng số liệu đã thống kê để từ đó phân tích và
rút ra các kết luận.
Phương
pháp so sánh, đối chiếu: Thông qua
những dữ liệu về chi phí và lợi nhuận đã thu thập được qua các năm, tác giả tiến
hành so sánh đối chiếu tình hình thực hiện của năm sau so với năm trước, từ đó
đưa ra các đánh giá định tính về thực trạng chi phí và lợi nhuận của công ty.
Trong quá trình phân tích tác giả sử dụng hai phương pháp là so sánh số tương đối
và tuyệt đối qua các năm:
·
So sánh tuyệt đối: Là hiệu số của hai
chỉ tiêu kỳ phân tích và chỉ tiêu cơ sở.
·
So sánh tương đối: Là tỷ lệ phần trăm
của chỉ tiêu kỳ phân tích so với chỉ tiêu gốc để thể hiện mức độ hoàn thành,
hoặc tỷ lệ của số chênh lệch tuyệt đối so với chỉ tiêu gốc để nói lên tốc độ
tăng trưởng.
Nhắn tin để tài luận văn này với giá 5k
Post a Comment